Skip to content Skip to sidebar Skip to footer

Hợp tịnh Thập Bát Phi Tinh sách thiên Tử Vi Đẩu Số toàn tập (phần 1)

QNB: Loạt bài viết “Khái lược về TVĐS trong lịch sử các môn thuật số” cũng được viết gần xong (dự kiến có 12 kỳ, đã đăng lên 6 kỳ rồi) nhưng nay xin được tạm thời gián đoạn để QNB khảo cứu kỹ thêm một số thông tin về lịch sử môn Hà Lạc Lý Số (Bát Tự Hà Lạc). Bởi vì nhận thấy các nguyên liệu để xây dựng nên môn này hầu hết đã có từ thời Lưỡng Hán xoay quanh Dịch Học Tượng Số như Nạp Giáp, Trang Chi, Tượng Số âm dương của Can Chi của Đồ Thư, Bát Quái (quái đơn 3 hào), từ đó mà lập ra quái kép 6 hào, rồi phối hợp các điều lệ về Thế Ứng, Thăng Giáng, Tiêu Tức, Biến Quái, Tịch Quái,… và thuyết Tam Nguyên Tử Bạch để xác định hào Nguyên Đường của quẻ Tiên Thiên, quẻ Hậu Thiên. Đồng thời Lịch Pháp sử dụng của môn này là Âm Dương hợp lịch nhưng chú trọng phần Thái Dương lịch, tức chú trọng đến Tiết Khí. Tư tưởng của môn Hà Lạc Lý Số cũng hoàn toàn thuần túy theo tư tưởng Hữu Vi của các nhà Nho Dịch mà không hề dính dáng tới tư tưởng Vô Vi của các Đạo gia, cho nên nếu nói môn Hà Lạc Lý Số là do Hy Di tiên sinh Trần Đoàn (thời cuối nhà Đường – đầu nhà Tống) sáng chế ra thì tôi e rằng không phải. Tại sao môn Hà Lạc Lý Số xuất hiện chậm muộn so với những cơ sở nguyên lý cấu thành của nó thì rất có thể liên quan tới chủ trương “tảo tượng” (quét tượng, tức không bàn đến Tượng khi chú Dịch) của Vương Bật, ông này đoản thọ, chỉ sống được 24 tuổi, vốn là một học trò của Lưu Biểu – thủ lĩnh phái Thanh Lưu (mà Lưu Biểu lại là môn đồ của Phí thị danh gia Dịch Học), nhưng mà những tác phẩm và tư tưởng của Vương Bật đã có ảnh hưởng mạnh mẽ sâu sắc đến tư tưởng của các nhà Nho Dịch các đời sau.
Tuy nhiên, nay ta tạm thời dừng lại để khảo sát trong các kinh điển “Tục Đạo Tạng” có môn thuật số gọi là “Thuật Thiên Cơ”, mà bộ “Tục Đạo Tạng” được Chính nhất Thiên Sư đời thứ 50 của Đạo Giáo là Trương Quốc Tường tập thành, xuất bản vào thời Minh Thần Tông năm Vạn Lịch thứ 15 (tức năm 1607) dưới cái tên “Vạn Lịch Tục Đạo Tạng” trong đó bao gồm 3 quyển “Thuật Thiên Cơ Tử Vi Đẩu Số”.
“Thuật Thiên Cơ” thường được gọi tắt với tên dân dã là “Thập Bát Phi Tinh”, bản khắc gỗ cổ nhất của nó gồm có 2 phần, trong đó có phần đầu gọi là “Hợp Tịnh Thập Bát Phi Tinh sách thiên Tử Vi Đẩu Số toàn tập” chứa phần viết về “Thuật Thiên Cơ” hay còn gọi là “Thập Bát Phi Tinh Đẩu Số” hoặc gọi là “Đạo Tạng Tử Vi Đẩu Số”, phần sau của bản khắc đó được gọi với tên dân dã là “Tử Vi Đẩu Số Toàn Tập” chính là phần viết về môn Tử Vi Đẩu Số mà chúng ta vẫn biết hiện nay.
Tại Đài Loan, vào năm 1966 thì Thiết bản đạo nhân Trần Nhạc Kỳ đã công bố qua nhà xuất bản Phúc Châu một bản cổ thư tên là “Thập Bát Phi Tinh sách thiên Tử Vi Đẩu Số” với lời nói đầu xưng là Tử Vi Đẩu Số gia truyền thuộc chính thống
Bắc phái, do Hi Di Trần Đồ Nam trước tác và Bạch Ngọc Thiềm tăng bổ. Sau đó, đến năm 1971 thì Tập Văn thư cục cũng xuất bản một cuốn với tên như vậy, nội dung cũng tương đồng nhưng không có lời mào đầu như trên.
Sau đây QNB sẽ dịch nội dung bộ sách này, với sự ưu tiên dịch trước chương Tử Vi Đẩu Số, còn phần 3 quyển “Thập Bát Phi Tinh” – tức Đạo Tạng Tử Vi Đẩu Số – sẽ dịch sau (thực ra thì phần này trước đây QNB đã từng dịch được một chút, sau này sẽ tổng hợp lại).
Tân khắc Hợp tịnh Thập Bát Phi Tinh sách thiên Tử Vi Đẩu Số toàn tập
(Bản khắc mới của “Sách hợp nhất Thập Bát Phi Tinh chương Tử Vi Đẩu Số toàn tập”).
1. Khởi lệ ca quyết tổng quát
Hi Di ngưỡng quan thiên thượng tinh
Tác vi đẩu số thôi nhân mệnh
Bất y ngũ tinh yếu quá tiết
Chỉ luận niên nguyệt nhật thời sinh.
(Ngài Hi Di ngẩng đầu ngắm sao trên trời,
Tạo ra môn Đẩu Số để suy đoán mệnh người,
Không giống với (môn) Ngũ Tinh, quá chú trọng đến Tiết khí,
(Mà) Chỉ luận về năm, tháng, ngày, giờ sinh).
Tiên an thân mệnh thứ định cục
Tử Vi, Thiên Phủ bố chư tinh
Kiếp, Không, Thương, Sứ, Thiên Khôi Việt
Thiên Mã, Thiên Lộc đái sát thần.
(Trước tiên an Thân Mệnh, thứ đến là xác định Cục (số),
Bài bố (vị trí của) Tử Vi, Thiên Phủ cùng các sao,
Kiếp, Không, Thương, Sứ, Thiên Khôi, Thiên Việt,
Thiên Mã, Thiên Lộc, (cùng với) dải các thần sát).
Tiền Dương hậu Đà tính tứ hóa
Hồng Loan, Thiên Hỉ, Hỏa, Linh, Hình
Nhị chủ đại hạn tính tiểu hạn
Lưu niên Thái Tuế tầm Đẩu Quân
(Trước an Kình dương, sau an Đà La, cùng với cả Tứ Hóa,
Hồng Loan, Thiên Hỉ, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Thiên Hình,
Nhị chủ (“mệnh chủ” và “thân chủ”), đại hạn cùng tiểu hạn,
Lưu niên, Thái Tuế, tìm Đẩu Quân).
Thập nhị cung phần tường miếu hãm
Lưu niên họa phúc tòng thử phần
Lộc, Quyền, Khoa, Kị vi tứ hóa
Duy hữu Kị tinh tối khả tăng.
(Ở mười hai cung phận, phải tỏ tường miếu hãm (của sao),
Lưu niên họa phúc theo vị trí chúng ở cung phận nào,
Lộc Quyền Khoa Kị là Tứ Hóa,
Chỉ có Hóa Kị là rất đáng ghét).
Đại tiểu nhị hạn nhược phùng Kị
Vị miễn kỳ nhân hữu tai truân
Khoa danh khoa giáp khán Khôi Việt
Văn Xương, Văn Khúc chủ công danh.
(Đại hạn, tiểu hạn nếu gặp Hóa Kị,
Người ta khó mà tránh việc phải gặp tai ách, gian truân,
Khoa danh, khoa bảng (chuyện học hành) thì xem ở Khôi Việt,
Văn Xương, Văn Khúc (vì chúng) chủ về công danh).
Tử Phủ Nhật Nguyệt chư tinh tụ
Phú quý giai tòng thiên thượng sanh
Dương Đà Hỏa Linh vi tứ sát
Xung mệnh xung hạn bất vi vinh.
(Tử Phủ Nhật Nguyệt cùng các (cát) tinh tụ hội
(Được) phú lẫn quý thì cũng là theo sự sắp đặt của trời,
Kình, Đà, Linh, Hỏa là tứ sát,
Xung vào mệnh, xung hạn, thì không được vinh hoa).
Sát Phá Liêm Lang câu tác ác
Miếu nhi bất hãm chưởng tam quân
Khôi Việt Xương gia vô cát ứng
Nhược hoàn mệnh hạn hãm vưu sân.
(Sát Phá Liêm Tham gây ác,
Khi miếu thì (làm tướng) đứng đầu chấp chưởng ba quân,
Thêm Khôi Việt, Văn Xương mà không có cát tinh ứng trợ,
Nếu gặp tại Mệnh, tại hạn hãm thì mắc sai lầm, giận dữ, không xứng ý toại lòng).
Thượng hữu lưu Dương Đà đẳng túc
Thử dữ Thái Tuế tòng lưu hành
Cánh gia Tang Điếu Bạch Hổ thấu
Thương Sứ khả dĩ đoán sinh tử.
(Còn Lưu Kình Đà mà có hoặc đón chờ (tại hạn ấy),
Chúng cùng theo Thái Tuế mà lưu hành,
Thêm Tang, Điếu, Bạch Hổ, tụ tập lại,
(Có) Thương, Sứ, thì có thể đoán được chuyện sống chết).
Nhược hữu đồng niên đồng nhật nguyệt
Họa phúc hà hữu bất chuẩn hồ?
Bất chuẩn câu dụng tam thời đoán
Thời hữu sai trì bất khả bằng.
(Nếu như cùng cùng năm cùng tháng ngày (sinh),
(Thì) Họa phúc không có chuẩn (đúng) hay sao?
Không chuẩn đều dùng ba giờ (mà) đoán
Giờ (mà) có sai, chậm thì không thể (coi là) bằng chứng được
(QNB chú: có lẽ muốn rằng lấy thêm 2 giờ xung quanh giờ sinh mà xem cho kỹ))
Thử thị Hi Di chân khẩu quyết
Học giả tu đương tử tế tinh
Hậu cụ tinh đồ tịnh luận đoán
Kỳ trung phẫu quyết tối phân minh.
Nhược năng y thử thôi nhân mệnh
Hà dụng cầm đường giảng ngũ tinh?
(Đó chính là khẩu quyết của Hi Di,
Người học cần phải nhận biết, kỹ lưỡng, thật tinh.
Sau bày đủ tinh đồ (bản đồ các sao) mà luận đoán,
Trong đó (có) yếu quyết từng bộ phận rất rõ ràng hiển nhiên.
Nếu như sử dụng môn này mà đoán nhân mệnh,
Thì còn cần dùng phòng nhạc (“cầm đường”) để giảng về môn Ngũ Tinh nữa chăng?)
2. Thập Can lệ (quy ước về 10 Thiên Can)
Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý.
Giáp, Bính, Mậu, Canh, Nhâm, là 5 Can thuộc Dương, người sinh vào những năm này thì là Dương Nam Dương Nữ.
Ất, Đinh, Kỷ, Tân, Quý, là 5 Can thuộc Âm, người sinh vào những năm này thì là Âm Nam Âm Nữ.
3. Thập nhị Địa Chi
Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tị, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi.
Tý, Dần, Thìn, Ngọ, Thân, Tuất, là 6 Chi thuộc Dương.
Sửu, Mão, Tị, Mùi, Dậu, Hợi, là 6 Chi thuộc Âm.
4. Thập nhị Nguyệt Kiến lệ (quy ước về 12 Nguyệt Kiến)
Tháng Giêng kiến Dần, tháng Hai kiến Mão, tháng Ba kiến Thìn, tháng Tư kiến Tị, tháng Năm kiến Ngọ, tháng Sáu kiến Mùi, tháng Bảy kiến Thân, tháng Tám kiến Dậu, tháng Chín kiến Tuất, tháng Mười kiến Hợi, tháng Một kiến Tý, tháng Chạp kiến Sửu.
5. Thập nhị cung Đối Xung lệ (quy ước về đối xung của 12 cung)
Tý Ngọ đối xung, Sửu Mùi đối xung, Dần Thân đối xung, Mão Dậu đối xung, Thìn Tuất đối xung, Tị Hợi đối xung.
6. Thập nhị cung Tam Hợp lệ (quy ước về Tam Hợp của 12 cung)
Dần Ngọ Tuất hợp Hỏa,
Tị Dậu Sửu hợp Kim,
Thân Tý Thìn hợp Thủy,
Hợi Mão Mùi hợp Mộc.
(QNB chú: đây là các cung Tam Hợp nhưng sách nói rõ luôn Hành của từng Tam Hợp Cục).
7. Thập nhị cung Lục Hợp lệ (quy ước về Lục hợp của 12 cung)
Tý Sửu hợp Thổ,
Dần Hợi hợp Mộc,
Mão Tuất hợp Hỏa,
Thìn Dậu hợp Kim,
Tị Thân hợp Thủy,
Ngọ Mùi hợp Hỏa.
[QNB chú: đây là các cung Lục Hợp – còn gọi là Nhị Hợp, và sách nói rõ luôn sự “hợp hóa” về Ngũ Hành. Tuy nhiên, có chỗ cần lưu ý là “Ngọ Mùi hợp Hỏa”, khác với lý luận của Thiên Văn Lịch Pháp là “Ngọ Mùi hợp hóa Nhật Nguyệt”, vì thực chất sự Lục Hợp và “hợp hóa” của chúng chính là do căn cứ vào sự phân bố của Thất Chính (Ngũ Tinh và Nhật Nguyệt)].
8. Thập nhị Chi sở thuộc Ngũ Hành (thuộc tính Ngũ Hành của 12 Địa Chi)
Dần mão thuộc Mộc ở phương Đông
Tị Ngọ thuộc Hỏa ở phương Nam
Thân Dậu thuộc Kim ở phương Tây
Hợi Tý thuộc Thủy ở phương Bắc
Thìn Tuất Sửu Mùi thuộc Thổ ở Trung Ương.
9. Ngũ Hành tương sinh tương khắc lệ (quy ước tương sinh tương khắc của Ngũ Hành)
Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc, Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim.
Kim khắc Mộc, Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim.
10. Ngũ Hành sinh khắc chế hóa chi lý (cái lý sinh khắc chế hóa của Ngũ Hành).
Các Hành có Hỉ Kị không giống nhau, ở tại các cung vị cùng với chư tinh tương ứng bên trên.
Kim nhờ Thổ sinh, Thổ nhiều thì Kim lại bị chôn vùi,
Thổ nhờ Hỏa sinh, Hỏa nhiều thì Thổ lại bị cháy khô khốc,
Hỏa nhờ Mộc sinh, Mộc nhiều thì Hỏa quá mãnh liệt,
Mộc nhờ Thủy sinh, Thủy nhiều thì Mộc bị trôi dạt,
Thủy nhờ Kim sinh, Kim nhiều thì Thủy bị đục.
Kim có thể sinh Thủy, Thủy nhiều thì Kim bị chìm,
Thủy có thể sinh Mộc, Mộc nhiều thì Thủy bị cạn,
Mộc có thể sinh Hỏa, Hỏa nhiều thì Mộc bị đốt hết,
Hỏa có thể sinh Thổ, Thổ nhiều thì Hỏa u ám mờ mịt,
Thổ có thể sinh Kim, Kim nhiều thì Thổ biến thành cằn cỗi.
Kim có thể khắc Mộc, Mộc cứng thì Kim sứt mẻ,
Mộc có thể khắc Thổ, Thổ dày thì Mộc bị gãy,
Thổ có thể khắc Thủy, Thủy nhiều thì Thổ cuốn đổ,
Thủy có thể khắc Hỏa, Hỏa nhiều thì Thủy bị nóng bốc hơi,
Hỏa có thể khắc Kim, Kim nhiều thì Hỏa bị tắt.
Kim yếu gặp Hỏa, tất sẽ tan chảy
Hỏa yếu gặp Thủy, tất sẽ tắt ngấm
Thủy yếu gặp Thổ, tất bị tắc nghẽn
Thổ yếu gặp Mộc, tất sẽ sụt lở
Mộc yếu gặp Kim, tất bị chém đứt.
Cường Kim đắc Thủy, như mũi (gươm) cùn được mài sắc
Cường Thủy đắc Mộc, như được tiết bớt được khí
Cường Mộc đắc Hỏa, như dốt đặc được biến hóa thành sáng ra
Cường Hỏa đắc Thổ, như ngăn được cuồng nhiệt
Cường Thổ được Kim, như hạn chế được cái hại của nó.
11. Âm Dương sinh tử chi lý (cái lý Sinh Tử của Âm Dương)
Giáp mộc sinh ở Hợi mà Tử ở Ngọ
Ất mộc sinh ở Ngọ mà Tử ở Hợi,
Bính Mậu sinh ở Dần mà Tử ở Dậu,
Đinh Kỷ sinh ở Dậu mà Tử ở Dần,
Canh kim sinh ở Tị mà ở Tử ở Tý,
Tân kim sinh ở Tý mà Tử ở Tị,
Nhâm thủy sinh ở Thân mà Tử ở Mão,
Quý thủy sinh ở Mão mà Tử ở Thân.
Nam thuận hành còn Nữ thì nghịch số, đó đều là cái sự sinh trưởng của người và vật, không nằm ngoài cái quy luật của tạo hóa vậy. Cần biết rằng 10 Can, 12 Chi, cung phận mà còn có cái lý Âm Dương sinh tử như thế nữa là huống chi con người.
12. Lục Thập Hoa Giáp Nạp Âm lệ (quy ước Nạp Âm 60 Hoa Giáp)
Giáp Tý Ất Sửu, Hải Trung Kim,
Bính Dần Đinh Mão, Lô Trung Hỏa,
Mậu Thìn Kỷ Tị, Đại Lâm Mộc,
Canh Ngọ Tân Mùi, Lộ Bàng Thổ,
Nhâm Thân Quý Dậu, Kiếm Phong Kim,
Giáp Tuất Ất Hợi, Sơn Đầu Hỏa,
Bính Tý Đinh Sửu, Giản Hạ Thủy,
Mậu Dần Kỷ Mão, Thành Đầu Thổ,
Canh Thìn Tân Tị, Bạch Lạp Kim,
Nhâm Ngọ Quý Mùi, Dương Liễu Mộc,
Giáp Thân Ất Dậu, Tuyền Trung Thủy,
Bính Tuất Đinh Hợi, Ốc Thượng Thổ
Mậu Tý Kỷ Sửu, Phích Lịch Hỏa,
Canh Dần Tân Mão, Tùng Bách Mộc,
Nhâm Thìn Quý Tị, Trường Lưu Thủy,
Giáp Ngọ Ất Mùi, Sa Trung Kim,
Bính Thân Đinh Dậu, Sơn Hạ Hỏa,
Mậu Tuất Kỷ Hợi, Bình Địa Mộc,
Canh Tý Tân Sửu, Bích Thượng Thổ,
Nhâm Dần Quý Mão, Kim Bạc Kim,
Giáp Thìn Ất Tị, Phúc Đăng Hỏa,
Bính Ngọ Đinh Mùi, Thiên Hà Thủy,
Mậu Thân Kỷ Dậu, Đại Dịch Thổ,
Canh Tuất Tân Hợi, Thoa Xuyến Kim,
Nhâm Tý Quý Sửu, Tang Đố Mộc,
Giáp Dần Ất Mão, Đại Khê Thủy,
Bính Thìn Đinh Tị, Sa Trung Thổ,
Mậu Ngọ Kỷ Mùi, Thiên Thượng Hỏa,
Canh Thân Tân Dậu, Thạch Lựu Mộc,
Nhâm Tuất Quý Hợi, Đại Hải Thủy.
Vào thời Hoàng Đế, thần Xi Vưu nhiễu loạn, Hoàng Đế không thể trị được, sau đó bèn phong tịnh trai giới để tế Trời lễ Đất, được giáng xuống cho 10 Can và 12 Địa Chi, cái tròn thì tượng cho hình của Trời, cái vuông thì tượng cho hình của Đất, sơ khai như thế rồi lấy Can là Thiên và Chi là Địa. Hợp quang ở ngay ngưỡng cửa mà chiếu ra, sau đó mới trị được. Từ sau cuộc đại náo đó mới lấy Thập Can và Thập Nhị Chi mà phối thành Can Chi, rồi Quỷ Cốc Tử lại sáng tác ra Nạp Âm.
Tử Vi kim cung tứ tuế hành,
Sơ nhất tầm Trư sơ nhị Long,
Thuận tiến nhị bộ nghịch thoái nhất,
Tiên âm hậu dương thị kỳ cung,
Duy hữu sơ nhị Thìn thượng khởi
Thoái tam tiến tứ nghịch hành tung.
Giáp Tý Ất Sửu hải trung kim, Nhâm Thân Quý Dậu kiếm phong kim, Canh Thìn Tân Tị bạch lạp kim, Giáp Ngọ Ất Mùi sa trung kim, Nhâm Dần Quý Mão kim bạc kim, Canh Tuất Tân Hợi thoa xuyến kim.
Tự cung Dần nạp âm thuộc Kim, đếm tới Mệnh cung gặp 6 loại Kim ấy tức là Kim Cục vậy. Sau này sẽ rõ.
Khảm thủy cung trung nhị tuế hành,
Sơ nhất khởi Sửu sơ nhị Dần,
Thuận hành nhất cung tiến nhất nhật,
Âm dương tuy dị hành tắc đồng.
Bính Tý Đinh Sửu giản hạ thủy, Giáp Thân Ất Dậu tuyền trung thủy, Nhâm Thìn Quý Tị trường lưu thủy, Bính Ngọ Đinh Mùi thiên hà thủy, Giáp Dần Ất Mão đại khê thủy, Nhâm Tuất Quý Hợi đại hải thủy.
Ly hỏa cung trung lục tuế tri,
Sơ nhị kỵ Mã sơ nhất Kê,
Tiến nhị thoái nhị các nhất nhật,
Nghịch hồi tam bộ thị sinh kỳ,
Lánh hữu sơ nhị các kỳ vị,
Tiên dương thuận hành nghịch thoái chi,
Thoái nhị an nhất thoái nhị nhật,
Thuận tiến ngũ cung thị kỳ cơ.
Bính Dần Đinh Mão lô trung hỏa, Giáp Tuất Ất Hợi sơn đầu hỏa, Mậu Tý Kỷ Sửu phích lịch hỏa, Bính Thân Đinh Dậu sơn hạ hỏa, Giáp Thìn Ất Tị phúc đăng hỏa, Mậu Ngọ Kỷ Mùi thiên thượng hỏa.
Tuất thổ ngũ tuế cư kỳ trung,
Sơ nhất Ngọ thượng nhị Hợi cung,
Nghịch hành tam cung an nhất nhật,
Duy hữu cửu nhật bất năng đồng,
Nhị cung nhất nhật thuận nhị thứ,
Thoái nhị tam thứ hựu nghịch tòng
Duy hữu lục nhật vô chính vị,
Phùng tứ đối cung khứ tầm tung.
Canh Ngọ Tân Mùi lộ bàng thổ, Mậu Dần Kỷ Mão thành đầu thổ, Bính Tuất Đinh Hợi ốc thượng thổ, Canh Tý Tân Sửu bích thượng thổ, Mậu Thân Kỷ Dậu đại dịch thổ, Bính Thìn Đinh Tị sa trung thổ.
(QNB chú: ở sách này thiếu mất một bài cho Mộc Tam Cục. Đồng thời tôi xét thấy lời lẽ thuật toán trong các bài quyết này cũng có khác với các bài quyết trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư một chút. Xin độc giả lưu ý!)
13. An Mệnh Thân quyết
Đẩu bính kiến dần chính nguyệt khởi,
Số chí sinh nguyệt khởi thời thần,
Tý thời số đáo sinh thời chỉ,
Nghịch hồi an mệnh thuận an thân.
(Đuôi chòm Bắc Đẩu kiến Dần thì khởi tháng Giêng
Đếm (thuận) tới tháng sinh rồi tại đó khởi đếm giờ sinh
Từ giờ Tý đếm đến giờ sinh thì dừng lại
Đếm nghịch tới giờ sinh an Mệnh, đếm thuận đến giờ sinh an Thân).
Giả như người sinh vào giờ Thìn tháng Hai, từ cung Dần khởi tháng Giêng, đếm thuận đến tháng Hai tới Mão, liền ở Mão khởi giờ Tý, đếm nghịch đến giờ Thìn thì tới cung Hợi, liền an Mệnh ở cung Hợi, lại từ cung Mão khởi giờ Tý, đếm thuận đến giờ Thìn thì tới cung Mùi, liền an Thân tại cung Mùi.
Lại như người sinh giờ Hợi tháng Ba, từ cung Dần khởi đếm thuận đến tháng Ba tại cung Thìn, liền ở cung Thìn khởi giờ Tý đếm nghịch tới giờ Hợi thì đến cung Tị mà an Mệnh, lại ở cung Thìn khởi giờ Tý đếm thuận đến giờ Hợi ở cung Mão mà an Thân.
Lại như người sinh giờ Dần tháng Mười, từ Hợi cung nguyệt kiến (tháng Mười) mà khởi đếm giờ sinh, phép tắc như trên.
Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
Lại có người Thân Mệnh đồng cung, thì dụ như người sinh giờ Tý tháng Giêng, thì tháng Giêng kiến Dần, liền từ cung Dần khởi giờ Tý, cho nên Thân Mệnh đồng an ở cung Dần. Hay như người sinh vào giờ Ngọ tháng Giêng, thì từ cung Dần khởi giờ Tý đếm nghịch đến giờ Ngọ tới cung Thân (khỉ) mà an Mệnh, lại cũng từ cung Dần khởi giờ Tý đếm thuận tới giờ Ngọ tại cung Thân (khỉ) mà an Thân, cho nên Mệnh Thân cùng an ở cung Thân (khỉ).
Cứ thế dù là tháng Hai, tháng Ba, cho tới tháng Một tháng Chạp gì thì cũng tại bản cung Nguyệt Kiến mà khởi đếm, phép tắc như trên, xem kỹ thì sẽ hiểu rõ vậy.
14. Định thập nhị cung lục thân tài phúc lệ (quy ước xác định các cung Tài Phúc và cung Lục Thân ở trên 12 cung)
Nhất Mệnh, nhị Huynh đệ, tam Thê Thiếp, tứ Tử Tức, ngũ Tài Bạch, lục Tật Ách, thất Thiên Di, bát Nô Bộc, cửu Quan Lộc, thập Điền Trạch, thập nhất Phúc Đức, thập nhị Phụ Mẫu.
Không cần biết nam nữ, cứ lấy Mệnh cung làm chủ, nghịch hành mà bài bố cho đủ 12 cung. Giả như Mệnh lập tại cung Tý thì cung Hợi tất sẽ là cung Huynh Đệ, cung Tuất là cung Phu Thê,… ngoài ra cứ phỏng theo đó.
15. Định Ngũ Hành quyết
Thân mệnh ký định yếu bố cục,
Tam hợp đối xung thủy hữu phân,
Thứ tương độn giáp nạp âm số,
Số chí bản mệnh ngũ cục minh.
(Thân Mệnh đã xác định rồi thì cần bài bố Cục,
Tam hợp đối xung bắt đầu phân chia,
Kế đó đem độn giáp số Nạp Âm
Đếm đến Bản Mệnh mà sáng tỏ ngũ Cục).
Sau khi Thân Mệnh đã định, liền lấy Mệnh cung làm chủ phân chia phác họa đối xung với tam hợp, như Mệnh tại Tý liền lấy Ngọ làm đối cung, lấy Thân Thìn hợp chiếu. Như Mệnh tại Ngọ thì lấy Tý làm đối cung.
16. Định ngũ Cục lệ (quy ước xác định 5 Cục)
Giáp kỷ chi niên bính dần thủ,
Ất canh chi tuế mậu dần đầu,
Bính tân tiện hướng canh dần khởi,
Đinh nhâm nhâm dần thuận hành lưu,
Duy hữu mậu quý hà phương khởi
Giáp dần chi thượng khứ tầm cầu.
(Năm Giáp Kỷ, tháng Giêng là Bính Dần đứng đầu
Năm Ất Canh, tháng Giêng là Mậu Dần đầu tiên
Năm Bính Tân, khởi tháng Giêng là Canh Dần
Năm Đinh Nhâm, thì tháng Giêng là Nhâm Dần mà thuận hành
Năm Mậu Quý thì khởi ở phương nào,
Trên cung Dần khởi tìm tháng Giêng là Giáp Dần).
QNB chú: như quý độc giả đã biết, phép này chính là để tính Thiên Can cho tháng Giêng (Dần) và từ đó tính được ra Thiên Can của các tháng trong năm tương ứng, cũng như tính được Ngũ Hành Nạp Âm cung an Mệnh, tức là ngũ hành của Cục.
Bất luận là Nam Nữ đều từ cung Dần mà độn giáp nạp âm, đếm thuận số đến cung Mệnh mà định Ngũ hành Cục.
Giả như người sinh năm Giáp năm Kỷ mà Mệnh lập tại cung Dần, liền tại cung Dần khởi Bính Dần là Lô Trung Hỏa, chính là Hỏa Lục Cục. Như người mà Mệnh lập tại cung Mão thì Đinh Mão cũng là Lô Trung Hỏa, là Hỏa Cục. Lại như người mà Mệnh lập tại cung Thìn cũng từ cung Dần khởi Bính Dần rồi đếm thuận đến cung Thìn là Mậu Thìn Kỉ Tị Đại Lâm Mộc, là Mộc Tam Cục, như người mà Mệnh lập tại cung Tị cũng là Mộc Cục.
Giả như người sinh năm Ất Canh mà Mệnh lập tại Tý hay tại Sửu, từ cung Dần đếm thuận tới cung Tý cung Sửu thuộc Mậu Tý Kỷ Sửu Tích Lịch Hỏa, là Hỏa Cục.
Ngoài ra cứ phỏng theo đó mà suy.
17. Định ngũ hành Trường Sinh lệ (quy ước xác định Tràng Sinh của ngũ hành)
Kim sinh ở Tị,
Mộc sinh ở Hợi,
Hỏa sinh ở Dần,
Thủy Thổ sinh ở Thân.
Tràng Sinh, Mộc Dục, Quan Đới, Lâm Quan, Đế Vượng, Suy, Bệnh, Tử, Mộ, Tuyệt, Thai, Dưỡng.
18. Quyết an Tử Vi, Thiên Phủ
Cục định sinh nhật nghịch bố tử
Đối cung thiên phủ thuận lưu hành,
Duy hữu dần thân đồng nhất vị,
Kỳ dư sửu mão hỗ an tinh.
(Đã định xong Cục thì theo ngày sinh mà bài bố Tử Vi, chòm sao của nó đi nghịch
Đối cung với (Tử Vi) là Thiên Phủ, chòm sao của nó thì đi thuận
Chỉ có ở cung Dần cung Thân là (Tử Phủ) cùng một vị trí
Ngoài ra thì tương hỗ (đối xứng qua trục Dần Thân) như Sửu với Mão mà an sao).
QNB chú: thực ra bài quyết này vốn được dùng để an sao Thiên Phủ sau khi đã an được sao Tử Vi, nhưng cách sắp xếp của sách này có một chút lộn xộn. Cách an sao Tử Vi lại nói đến ở các bài quyết mục 12. sau khi định Nạp Âm, mục mà QNB đã chú là thiếu mất bài quyết cho Mộc tam Cục.
Nói sau khi ngũ Cục đã định được, tức là trước đã theo ngày sinh mà an được Tử Vi, mà Thiên Phủ với Tử Vi “tà đối hỗ an” (an đối xứng tương hỗ qua trục chéo Dần Thân).
Giả như người sinh vào tháng Giêng ngày mồng 3 thuộc Kim Tứ Cục, thì xem ở đồ hình Kim Tứ Cục trước đây thấy ngày mồng 3 ở cung Sửu, liền an Tử Vi tại cung Sửu, rồi lấy “tà đối” tại cung Mão an Thiên Phủ.
Lại như người sinh vào ngày mồng 8 cũng thuộc Kim Tứ Cục, cũng xem trong đồ hình Kim Cục thấy ngày mồng 8 ở cung Mão, liền an Tử Vi tại cung Mão, lấy “tà đối” tại cung Sửu an Thiên Phủ, cho nên nói là “hỗ an”.
Ngoài ra cứ phỏng theo đó. Nếu như ngày sinh của Cục mà an Tử Vi vào cung Dần hay cung Thân thì Tử Phủ đồng cung.
19. Bố nam bắc nhị đẩu chư tinh quyết (bài quyết sắp xếp các sao nam bắc đẩu)
Tử Vi Thiên Cơ tinh nghịch hành,
Cách nhất Dương Vũ Thiên Đồng tình,
Hựu cách nhị vị Liêm Trinh địa,
Không tam tiện thị Tử Vi tinh.
(Tử Vi đi nghịch tới Thiên Cơ,
Cách một cung đến Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng
Lại cách hai cung đến vị trí của Liêm Trinh
Bỏ trống ba cung liền gặp lại sao Tử Vi)
Giả như Tử Vi tại cung Dần, thì nghịch đến Sửu cung an Thiên Cơ, cách qua cung Tý, tại cung Hợi an Thái Dương, tại cung Tuất an Vũ Khúc, tại cung Dậu an Thiên Đồng, lại cách hai cung Thân và Mùi, tại cung Ngọ an Liêm Trinh, lại bỏ trống 3 cung Tị Thìn Mão liền quay lại Dần gặp sao Tử Vi vậy. Ngoài ra cứ phỏng theo đó mà an.
Thiên Phủ Thái Âm thuận Tham Lang,
Cự Môn Thiên Tướng dữ Thiên Lương,
Thất Sát không tam Phá Quân vị,
Cách cung không kiến Thiên Phủ hương.
(Thiên Phủ, thuận đến Thái Âm, Tham Lang,
Cự Môn, Thiên Tướng, và Thiên Lương,
Thất Sát, bỏ trống ba cung là vị trí của Phá Quân,
Cách một cung là thấy lại chỗ của Thiên Phủ).
Giả như Thiên Phủ tại cung Dần, liền thuận hành tới cung Mão an Thái Âm, cung Thìn an Tham Lang, cung Tị an Cự Môn, cung Ngọ an Thiên Tướng, cung Mùi an Thiên Lương, cung Thân an Thất Sát, bỏ trống 3 cung Dậu Tuất Hợi, tại cung Tý an Phá Quân, cách 1 cung Sửu thì trở lại Dần cung là chỗ của sao Thiên Phủ vậy. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
20.
Thìn thượng thuận chính tầm Tả Phụ,
Tuất thượng nghịch chính Hữu Bật đương,
Thìn thượng thuận thời tầm Văn Khúc,
Tuất thượng nghịch thời mịch Văn Xương.
(Trên cung Thìn khởi tháng Giêng thuận đến tháng sinh tìm Tả Phụ
Trên cung Tuất khởi tháng Giêng nghịch đến tháng sinh là chỗ Hữu Bật
Trên cung Thìn khởi giờ Tý thuận đến giờ sinh tìm Văn Khúc
Trên cung Tuất khởi giờ Tý nghịch đến giờ sinh kiếm Văn Xương).
Hợi thượng khởi Tý thuận an kiếp,
Nghịch hành tiện thị Địa Không vong,
Số chí sinh nguyệt sinh thì trụ
Thập nhị cung trung tử tế tường.
(Trên cung Hợi khởi Tý đi thuận an Địa Kiếp
Đi nghịch chính là Địa Không vong
Đếm tới tháng sinh trụ giờ sinh
Mười hai cung suy xét cho tường tận).
QNB chú: không rõ trong bài quyết an Địa Kiếp Địa Không này lại đề cập tới “tháng sinh” ở đây làm cái gì??? Độc giả lưu ý. Tại sách này như vậy là có đề cập đến cái tên sao Địa Không, khác với Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư vốn gọi nó là sao “Thiên Không” đi cặp với Địa Kiếp.
Phàm mệnh bất kể Nam Nữ, từ cung Thìn khởi tháng Giêng đếm thuận tới tháng sinh an Tả Phụ, từ cung Tuất khởi tháng Giêng đếm nghịch đến tháng sinh an Hữu Bật.
An 2 sao Xương Khúc cũng bất kể Nam Nữ, từ cung Thìn khởi giờ Tý đếm thuận đến giờ sinh an Văn Khúc, từ cung Tuất khởi giờ Tý đếm nghịch đến giờ sinh an Văn Xương. Giả như người sinh vào giờ Sửu, liền tại cung Thìn khởi Tý đếm thuận đến cung Tị là giờ Sửu an Văn Khúc, tại cung Tuất khởi Tý đếm nghịch đến cung Dậu là giờ Sửu an Văn Xương. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
An 2 sao Kiếp Không cũng chẳng kể nam nữ, đều tại cung Hợi mà khởi giờ Tý, đếm thuận đến giờ sinh an Địa Kiếp, đếm nghịch đến giờ sinh an Địa Không.
21. Định Lộc Quyền Khoa Kị tứ hóa quyết
Giáp liêm phá vũ dương,
Ất cơ lương vi nguyệt,
Bính đồng cơ xương liêm,
Đinh nguyệt đồng cơ cự,
Mậu tham nguyệt bật cơ,
Kỷ vũ tham lương khúc,
Canh nhật vũ âm đồng,
Tân cự dương khúc xương,
Nhâm lương tử tả vũ,
Quý phá cự âm lang
Phàm mệnh chẳng kể nam nữ, hễ cứ có năm sinh thuộc năm Giáp thì Liêm Trinh hạ an Lộc, Phá Quân hạ an Quyền, Vũ Khúc hạ an Khoa, Thái Dương hạ an Kị.
Lại như người sinh năm Ất thì Thiên Cơ hạ an Lộc, Thái Âm hạ an Kị.
Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
22. Định Thiên Thương Thiên Sứ
Mệnh hậu lục vị vi thiên sứ,
Mệnh tiền lục vị vi thiên thương,
Đại hạn tương phùng ngộ tiểu hạn,
Thử tinh nãi thị hoạt diêm vương.
(Từ cung Mệnh mà lui về sau 6 cung vị là chỗ Thiên Sứ
Từ cung Mệnh mà tiến về trước 6 cung vị là chỗ Thiên Thương
Đại hạn tương phùng gặp Tiểu hạn ở đó,
Các sao ấy chính là Diêm Vương hiển hiện).
Lấy Mệnh cung làm chủ, giả như Mệnh tại cung Dần, tất từ đó về sau 6 cung vị là cung Dậu an Thiên Sứ, từ cung Dần tiến về trước 6 cung vị là cung Mùi an Thiên Thương.
Ngoài ra phỏng theo đó.
23. Định Thiên Khôi Thiên Việt
Giáp mậu canh ngưu dương,
Ất kỷ thử hầu hương,
Lục tân phùng mã hổ,
Nhâm quý thố xà tàng,
Bính đinh trư kê vị,
Thử thị quý nhân hương.
Phàm mệnh bất kể nam nữ đều lấy Thiên Can năm sinh làm chủ, giả như người sinh năm Giáp Mậu Canh thì Sửu cung an Thiên Khôi còn Mùi cung an Thiên Việt, như người sinh năm Ất Kỷ thì Tý cung an Thiên Khôi còn Thân cung an Thiên Việt, ngoài ra cứ phỏng theo đó.
24. Định Lộc Tồn Dương Đà quyết
Giáp lộc đáo Dần cung, Ất lộc cư Mão phủ,
Bính Mậu lộc tại Tị, Đinh Kỷ lộc cư Ngọ,
Canh lộc định cư Thân, Tân lộc Dậu thượng bổ,
Nhâm lộc Hợi trung tàng, Quý lộc cư tại Tý.
Lộc tiền nhất vị Dương Nhận đương,
Lộc hậu nhất vị Đà La khổ.
Phàm mệnh đều lấy Thiên Can năm sinh làm chủ, giả như người sinh năm Giáp thì tại cung Dần an Lộc Tồn, sinh năm Ất thì tại cung Mão an Lộc Tồn, ngoài ra cứ phỏng theo đó.
Dương Đà nhị tinh thì lấy Lộc Tồn làm chủ, giả như Lộc Tồn tại Dần thì ở trước đó 1 vị là Mão cung an Dương Nhận, sau đó 1 vị là Sửu cung an Đà La. Lại như Lộc Tồn tại Mão thì trước đó 1 vị là cung Thìn an Dương Nhận, sau đó 1 vị là cung Dần an Đà La, ngoài ra cứ phỏng theo đó.
25. An Hỏa Linh quyết
Thân Tý Thìn nhân Dần hỏa Tuất linh,
Dần Ngọ Tuất nhân Sửu hỏa Mão linh,
Hợi Mão Mùi nhân Dậu hỏa Tuất linh,
Tị Dậu Sửu nhân Tuất hỏa Mão linh.
Phàm mệnh đều lấy Địa Chi năm sinh làm chủ, giả như người sinh năm Thân Tý Thìn vào giờ Tý thì tại Dần cung khởi giờ Tý đếm thuận đến giờ sinh an Hỏa Tinh, tại Tuất cung khởi giờ Tý đếm thuận đến giờ sinh an Linh Tinh.
Giả như người sinh năm Giáp Thân vào giờ Sửu thì tại cung Mão an Hỏa Tinh, tại cung Hợi an Linh Tinh.
Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
QNB chú: ở bài ca quyết thì gần giống bài an Hỏa Linh trong Tử Vi Đẩu Số Toàn Thư, khác biệt ở vị trí đảo ngược Tuất và Mão cho các tuổi Tị Dậu Sửu, lại giống ở chỗ không đề cập đến giờ sinh mà chỉ đề cập tới Địa Chi năm sinh. Nhưng ở phần chú giải bên dưới của sách này lại có đề cập đến việc dùng giờ sinh. Tuy nhiên lại khởi đếm từ giờ sinh mà đi thuận hết. Độc giả lưu ý sự khác biệt với cách an trong các sách Tử Vi Đẩu Số ở Việt Nam mà chúng ta vẫn biết.
26. An Thiên Mã quyết
Dần Ngọ Tuất nhân mã cư Thân,
Thân Tý Thìn nhân mã cư Dần,
Tị Dậu Sửu nhân mã cư Hợi,
Hợi Mão Mùi nhân mã cư Tị.
Phàm mệnh đều lấy Chi năm sinh làm chủ, giả như người sinh vào các năm thuộc Thân Tý Thìn thì tại cung Dần an Thiên Mã, ngoài ra cứ phỏng theo đó.
27. An Hồng Loan Thiên Hỉ quyết
Hồng Loan mão thượng Tý niên khởi,
Nghịch hành số chí sinh niên chỉ,
Đối cung tức thị Thiên Hỉ tinh,
Vận hạn mệnh phùng thiên hữu hỉ.
(Hồng Loan từ Mão cung khởi đếm là năm Tý
Nghịch hành đếm tới năm sinh thì dừng lại
Đối cung với nó chính là sao Thiên Hỉ
Vận hạn mà mệnh gặp được thì thường vui).
Phàm mệnh chẳng kể nam nữ đều từ cung Mão khởi năm Tý, đếm nghịch đến năm sinh an Hồng Loan, đối cung với nó an Thiên Hỉ. Giả như người sinh năm Giáp Tý, tức tại cung Mão an Hồng Loan, tại cung Dậu an Thiên Hỉ. Như người sinh năm Ất Sửu thì tại Mão khởi Tý nghịch hành đến Dần cung là năm Sửu, tại Dần cung an Hồng Loan, tại Thân cung an Thiên Hỉ. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
28. An Thiên Diêu Thiên Hình quyết
Thiên Diêu sửu thượng thuận chính nguyệt,
Thiên Hình dậu thượng chính nguyệt luân,
Số đáo sinh nguyệt đình trụ cước,
Tiện an Hình Diêu nhị tinh thần.
(Thiên Diêu tại Sửu khởi tháng Giêng đi thuận
Thiên Hình tại Dậu khởi tháng Giêng đi thuận
Đếm đến tháng sinh thì dừng lại
Liền an 2 sao Thiên Hình Thiên Diêu)
Giả như người sinh tháng Giêng thì liền an Thiên Diêu tại cung Sửu, an Thiên Hình tại cung Dậu. Còn như người sinh tháng Hai thì tại Sửu khởi đếm thuận tới Dần cung an Thiên Diêu, tại Dậu khởi đếm tới Tuất cung an Thiên Hình. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
29. Định Mệnh chủ quyết
Tý thuộc Tham Lang Sửu Hợi Môn,
Dần Tuất sinh nhân thuộc Lộc Tồn,
Mão Dậu thuộc Văn, Tị Mùi Vũ,
Thìn Thân Liêm túc, Ngọ Phá Quân.
Phàm mệnh đều lấy Chi năm sinh làm chủ, giả như người sinh năm Tý thì Tham Lang là sao Mệnh chủ, như người sinh năm Sửu năm Hợi thì lấy Cự Môn làm sao Mệnh chủ. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
30. Định Thân chủ quyết
Tức là “Thân chủ chiếu tinh quân” vậy.
Tý Ngọ sinh nhân Linh Hỏa túc,
Sửu Mùi Thiên Tướng, Dần Thân Lương,
Mão Dậu Thiên Đồng thân chủ thị,
Tị Hợi Thiên Cơ, Thìn Tuất Xương.
Cũng lấy Chi năm sinh làm chủ, giả như người sinh năm Tý năm Ngọ thì lấy Hỏa Linh làm Thân Chủ, như người sinh năm Sửu năm Mùi thì lấy Thiên Tướng làm Thân Chủ, như sinh năm Dần Thân thì lấy Thiên Lương, sinh năm Mão Dậu thì lấy Thiên Đồng, sinh năm Tị Hợi thì lấy Thiên Cơ, sinh năm Thìn Tuất thì lấy Văn Xương.
31. An Tam Thai Bát Tọa nhị tinh quyết
Tam Thai tầm Tả Phụ thuận sơ nhất,
Số chí sinh nhật thị Thai cung,
Bát Tọa Hữu Bật nghịch sơ nhất,
Số chí sinh nhật định kỳ tung.
(Tam Thai thì tìm vị trí Tả Phụ khởi ngày mồng 1 đi thuận
Đếm tới ngày sinh thì chính là vị trí của Tam Thai
Bát Tọa thì lấy vị trí Hữu Bật mà khởi mồng 1 đi nghịch
Đếm tới ngày sinh mà xác định hành tung).
Phàm mệnh hạn đều lấy cung của Tả Phụ Hữu Bật làm chủ, giả như người sinh vào ngày mồng 5, Tả Phụ an tại cung Tý, liền từ cung Tý khởi mồng 1 mà đếm cho tới mồng 5 ở cung Thìn thì dừng lại, an Tam Thai ở cung Thìn. Lại như người sinh vào ngày mồng 5 mà Hữu Bật an tại cung Dần, từ cung Dần khởi đếm mồng 1, đếm tới mồng 5 ở cung Ngọ, liền an Bát Tọa vào cung Ngọ. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
QNB chú: Chỗ này sách chú giải sai mất chỗ an Bát Tọa, thay vì “đi nghịch từ cung Dần đến ngày mồng 5 ở cung Tuất an Bát Tọa” thì lại đi nhầm thành “đi thuận từ Dần đến ngày mồng 5 ở cung Ngọ an Bát Tọa”. Độc giả lưu ý.
32. An Long Trì Phượng Các tinh quyết
Long Trì khởi Tý thuận hành Thìn,
Sinh niên tiện thị phúc nguyên chân,
Phượng Các Tuất thượng nghịch số Tý,
Ngộ chí sinh niên thị cát thần.
(Long Trì từ cung Thìn khởi năm Tý đếm thuận
Tới năm sinh thì chính là chỗ gốc của phúc
Phượng Các từ cung Tuất khởi năm Tý đếm nghịch
Tới năm sinh thì chính là chỗ cát thần).
Phàm mệnh chẳng kể nam nữ đều lấy 2 cung Thìn Tuất làm chủ. Giả như người sinh năm Giáp Tý, ở cung Thìn an Long Trì, cung Tuất an Phượng Các. Như người sinh năm Ất Sửu thì từ cung Thìn khởi năm Tý đếm thuận đến cung Tị là năm Sửu liền an Long Trì vào cung Tị, từ cung Tuất khởi năm Tý đếm nghịch đến cung Dậu là năm Sửu liền an Phượng Các vào cung Dậu. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
33. An Thiên Tài Thiên Thọ, Thai Phụ Phong Cáo tinh quyết
Mệnh cung khởi Tý Thiên Tài thuận,
Thân cung khởi Tý Thiên Thọ đường,
Khúc tiền tam vị thị Thai Phụ,
Khúc hậu tam vị Phong Cáo hương
Giả như người sinh năm Giáp Tý mà Mệnh lập tại Dần cung thì Thiên Tài an tại cung Dần, lại có Thân lập tại Ngọ cung thì Thiên Thọ an tại Ngọ cung.
Như người sinh năm Ất Sửu mà Mệnh lập tại cung Dần, thì từ Dần khởi năm Tý, đếm tới năm Sửu đến cung Mão, an Thiên Tài tại Mão. Lại có Thân lập tại Ngọ thì từ Ngọ khởi năm Tý, đếm tới năm Sửu đến cung Mùi, an Thiên Thọ tại Mùi.
Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
Giả như người có Văn Khúc tại cung Tý thì trước đó 3 cung vị là cung Dần an Thai Phụ, sau đó 3 cung vị là cung Tuất an Phong Cáo.
Ngoài ra cứ phỏng theo đó, đều lấy Văn Khúc làm chủ.
34. An Ân Quang Thiên Quý tinh quyết
Văn Xương thuận số chí sinh nhật,
Hậu thoái nhất bộ thị Ân Quang,
Văn Khúc thuận số chí sinh nhật,
Thoái hậu nhất bộ Thiên Quý dương.
(Từ chỗ Văn Xương đếm thuận tới ngày sinh
Sau đó lùi lại 1 bước là Ân Quang
Từ chỗ Văn Khúc đếm thuận tới tới ngày sinh
Sau đó lùi lại một bước là Thiên Quý).
Giả như người sinh vào ngày mồng 5, có Văn Xương tại cung Tý, liền từ cung Tý khởi ngày mồng 1 đếm thuận tới ngày mồng 5 ở cung Thìn, lùi lại 1 bước an Ân Quang tại cung Mão. Như Văn Khúc an tại cung Ngọ, liền từ cung Ngọ khởi ngày mồng 1 đếm thuận tới cung Tuất là ngày mồng 5, lùi lại một bước an Thiên Quý tại cung Dậu. Ngoài ra phỏng theo đó.
QNB chú: Chỗ này có sự sai khác về cách an Văn Khúc so với cách chúng ta vẫn thường dùng. Độc giả lưu ý.
35. An Thiên Quan quý nhân tinh quyết
Giáp mùi, Ất long, Nhâm khuyển nghi,
Bính xà, Đinh hổ, Kỷ Tân kê,
Mậu thỏ, Canh trư, Quý nghi mã,
Kỳ nhân quý hiển khả tiên tri.
Phàm mệnh đều lấy Thiên Can năm sinh làm chủ, giả như người sinh năm Giáp thì tại cung Mùi an Thiên Quan, như sinh năm Ất thì tại cung Thìn an Thiên Quan, ngoài ra cứ phỏng theo đó.
36. An Thiên Phúc quý nhân tinh quyết
Giáp ái kim kê, Ất ái hầu,
Đinh trư, Bính thử, Kỷ dần trù,
Mậu tầm ngọc thỏ, Canh Nhâm mã,
Tân Quý phùng xà tước lộc ưu.
Cũng lấy Thiên Can năm sinh làm chủ, giả như người sinh năm Giáp thì tại cung Dậu an Thiên Phúc, như sinh năm Ất thì tại cung Thân an Thiên Phúc, ngoài ra cứ phỏng theo đó.
37. An Thiên Không quyết
Giá tiền nhất vị thị Thiên Không,
Thân mệnh nguyên lai bất khả phùng,
Nhị chủ lộc tồn nhược trị thử,
Diêm vương bất phạ nhĩ anh hùng.
(Trước giá một vị là Thiên Không
Thân Mệnh vốn dĩ chẳng nên gặp
Nhị chủ và Lộc Tồn nếu mà gặp nó
Diêm Vương chẳng tha, kể cả là anh hùng)
Giá tiền (trước “Giá”) chính là trước Thái Tuế vậy, giả như người sinh năm Tý thì tại cung Tý an Thái Tuế, trước đó 1 cung vị là cung Sửu an Thiên Không. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
Nhị chủ tức là các sao Mệnh chủ Thân chủ vậy.
38. Định Tuần Trung Không Vong quyết
Giáp Tý tuần trung Tuất Hợi không,
Giáp Tuất tuần trung Thân Dậu không,
Giáp Thân tuần trung Ngọ Mùi không,
Giáp Ngọ tuần trung Thìn Tị không,
Giáp Thìn tuần trung Dần Mão không,
Giáp Dần tuần trung Tý Sửu không.
Giả như người sinh vào các năm Giáp Tý Ất Sửu cho đến Quý Dậu thì 10 năm đó đều thuộc vào trong tuần Giáp Tý, thì hai cung Tuất Hợi lạc Không.
Ngoài ra tương tự.
39. Định Tiệt Lộ Không Vong quyết
Giáp Kỷ chi tuế không Thân Dậu,
Ất Canh chi tuế Ngọ Mùi cầu,
Bính Tân sinh mệnh không Thìn Tị,
Đinh Nhâm Dần Mão tối kham ưu,
Mậu Quý sinh nhân không Tý Sửu.
Giả như người sinh năm Giáp năm Kỷ thì hai cung Thân Dậu lạc Không. Lại có luận về Chính Không và Bàng Không, như người sinh năm Giáp thì Thân là Chính Không còn Dậu là Bàng Không, như người sinh năm Kỷ thì Dậu là Chính Không còn Thân là Bàng Không.
40. Định Thiên Khốc Thiên Hư tinh quyết
Thiên Khốc Thiên Hư khởi Ngọ cung,
Ngọ cung khởi Tý phân lưỡng tung,
Khốc nghịch tị hành Hư thuận vị,
Sinh niên tầm đáo tiện cư trung.
(Khốc Hư cùng khởi tại Ngọ cung
Ngọ cung khởi Tý chia đôi đường
Khốc thì đi nghịch Hư đi thuận
Đếm tới năm sinh thì an sao).
Phàm mệnh đều lấy Địa Chi năm sinh làm chủ, giả như người sinh năm Thìn thì từ cung Ngọ khởi năm Tý, đếm nghịch đến năm Thìn là tới cung Dần, an Thiên Khốc vào cung Dần, từ cung Ngọ khởi năm Tý đếm thuận đến năm Thìn là tới cung Tuất rồi an Thiên Hư vào cung Tuất. Như người sinh năm Tý thì Khốc Hư đồng cung tại Ngọ. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
41. An Cô Thần Quả Tú tinh quyết
Dần Mão Thìn nhân an Tị Sửu,
Tị Ngọ Mùi nhân phạ Thân Thìn,
Thân Dậu Tuất nhân cư Hợi Mão,
Hợi Tý Sửu nhân Dần Tuất hoán.
Đều lấy Địa Chi năm sinh làm chủ, giả như người sinh năm Dần năm Mão năm Thìn thì tại Tị cung an Cô Thần, tại Sửu cung an Quả Tú. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
42. An Kiếp Sát tinh
Thân Tý Thìn nhân Xà khẩu khai,
Hợi Mão Mùi nhân Hầu tốc tẩu,
Dần Ngọ Tuất nhân Trư diện hắc,
Tị Dậu Sửu nhân Hổ bào hao.
Đều lấy Địa Chi năm sinh mà xem, giả như người sinh năm Thân năm Tý năm Thìn thì tại cung Tị (Xà) an Kiếp Sát. Ngoài ra cứ phỏng theo đó. (Hầu = khỉ = cung Thân; Trư = Lợn = cung Hợi; Hổ = cung Dần).
43. An Hoa Cái tinh quyết
Thân Tý Thìn nhân Thìn thượng thị,
Tị Dậu Sửu nhân Sửu thượng tiệt,
Hợi Mão Mùi nhân Mùi thượng thị,
Dần Ngọ Tuất nhân Tuất thượng đương.
Lấy Địa Chi năm sinh làm chủ, giả như người sinh năm Thân năm Tý năm Thìn thì đều tại cung Thìn an sao Hoa Cái. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
44. An Đào Hoa Sát quyết
Dần Ngọ Tuất, Thỏ mao lý xuất,
Thân Tý Thìn, Kê loạn nhân luân,
Hợi Mão Mùi, Thử đương đầu kỵ,
Tị Dậu Sửu, Mã nam phương tẩu.
Đều lấy Địa Chi năm sinh làm chủ, giả như người sinh năm Dần năm Ngọ năm Tuất thì đều an Đào Hoa tại cung Mão (Thỏ). Ngoài ra cứ phỏng theo đó. (Kê = gà = cung Dậu; Thử = chuột = cung Tý; Mã = ngựa = cung Ngọ).
QNB chú: sách này có sử dụng sao Đào Hoa giống như chúng ta, sao này họ còn gọi là sao Hàm Trì.
45. An Đại Hao quyết
Thử kỵ Dương đầu thượng,
Ngưu sân Mã bất canh,
Hổ tăng Kê uế đoản,
Thỏ oán Hầu bất bình,
Long hiềm Trư diện hắc,
Xà kinh Khuyển phệ thanh,
Hữu nhân phạm thử sát, (người nào phạm sát tinh ấy)
Tài thực tán linh đình. (Tiền tài y thực tiêu tán điêu linh)
Cũng đều lấy Địa Chi năm sinh làm chủ, giả như người sinh năm Tý thì an Đại Hao tại cung Mùi. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
QNB chú: sao Đại Hao này an theo Địa Chi như trong Thất Chính Tứ Dư (Quả Lão Tinh Tông) chứ không phải sao Đại Hao an theo Thiên Can như chúng ta vẫn biết.
46. An Phá Toái quyết
Tý Ngọ Mão Dậu tị,
Dần Thân Tị Hợi kê,
Thìn Tuất Sửu Mùi sửu,
Phạm chi tài bất nghi. (phạm vào thì tiền tài không ưa)
Cũng đều lấy Địa Chi năm sinh làm chủ, giả như người sinh các năm Tý Ngọ Mão Dậu thì Phá Toái an tại cung Tị. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
47. An sinh niên Thái Tuế thập nhị thần quyết
(an 12 Thần theo Thái Tuế năm sinh)
Thái Tuế, Thái Dương, Tang Môn khởi,
Thái Âm, Quan Phù, Tử Phù hóa,
Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ thần,
Phúc Đức, Điếu Khách, Bệnh Phù chỉ.
Lấy Địa Chi năm sinh làm chủ, giả như người sinh năm Tý thì chẳng kể nam nữ đều tại Tý an Thái Tuế, sau đó đi thuận mỗi cung an một sao như trên.
QNB chú: các sao “Thái Dương” và “Thái Âm” trong vòng Thái Tuế này, chính là các sao Thiếu Dương và Thiếu Âm mà chúng ta vẫn biết.
48. An sinh niên Bác Sĩ thập nhị thần quyết
(an 12 Thần theo vòng Bác Sĩ)
Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Tong, Tiểu,
Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm kế,
Hỉ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao tinh,
Phục Binh đáo xử Quan Phù liễu.
Phàm mệnh đều lấy cung vị Lộc Tồn làm chủ, giả như Dương Nam Âm Nữ mà Lộc tại Dần thì từ cung Dần khởi an Bác Sĩ rồi đi thuận mỗi cung an một sao, nếu như Âm Nam Dương Nữ thì lại đi nghịch. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
49. Định Đại Hạn
Đại Hạn tựu tòng Cục số số,
Nam Nữ nghịch số phân âm dương,
Dương Nam Âm Nữ thuận thôi tái,
Âm Nam Dương Nữ nghịch hành chân.
(Đại Hạn thì đếm theo số Cục
Nam Nữ thuận nghịch phân âm dương
Dương nam Âm nữ thì thuận tiến
Âm nam Dương nữ lại nghịch hành).
Phàm đều lấy cung Mệnh làm chủ, giả như người Dương Nam Âm Nữ mà cung Mệnh lập tại Tý thuộc Kim Tứ Cục, liền từ cung Tý khởi 4 tuổi rồi đi thuận sang Sửu là 14 tuổi, mỗi cung chủ 10 năm lần lượt theo số Cục. Nếu như là Âm Nam Dương Nữ mà có Mệnh lập tại cung Tý, Kim Tứ Cục, thì tại cung Tý khởi 4 tuổi, đi nghịch sang Hợi là 14 tuổi, lần lượt mỗi cung 10 năm.
Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
50. Định Tiểu Hạn quyết
Dần Ngọ Tuất nhân Thìn thượng khởi,
Thân Tý Thần nhân Tuất thượng thôi,
Hợi Mão Mùi nhân Sửu thượng thị,
Tị Dậu Sửu nhân Mùi thượng quy.
Lấy Địa Chi năm sinh làm chủ, giả như người sinh vào các năm Dần Ngọ Tuất thì đều tại cung Thìn mà khởi 1 tuổi, mỗi năm một cung, nam thì đi thuận nữ đi nghịch. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
QNB chú cho 2 mục 49 & 50:
Khác với TVĐS Toàn Thư khởi Đại Hạn từ các cung Phụ/Bào, ở đây TVĐS Toàn Tập khởi Đại Hạn từ cung Mệnh.
Về Tiểu Hạn thì không có gì khác biệt. Con số tuổi mà phần diễn giải bên dưới bài ca quyết chỉ là số tuổi tương ứng với Địa Chi tuổi mà thôi. Nó không có liên quan gì đến số tuổi theo cách tính Lưu Niên Đại Hạn mà giới TV Việt hay dùng.
51. Định Tiểu Nhi Đồng Hạn quyết
(xác định hạn của trẻ con)
Nhất Mệnh nhị Tài tam Tật Ách,
Tứ tuế Phu Thê ngũ Phúc Đức,
Lục tuế Quan Lộc thuận lưu hành,
Thất Bát Cửu tuế vô gian cách.
Phàm mệnh của trẻ con thì chẳng kể nam nữ, đều tại cung Mệnh là cung hạn 1 tuổi, tại cung Tài Bạch là cung hạn 2 tuổi, tại Tật Ách là cung hạn 3 tuổi, tại cung Phu Thê là cung hạn 4 tuổi, tại cung Phúc Đức là cung hạn 5 tuổi, ngoài ra cứ phỏng theo đó, mỗi cung theo các sao cát hung mà đoán, xem Lưu Niên Thái Tuế có cát hung thần sát cùng đoán.
52. An lưu niên Đẩu Quân pháp
Thái Tuế cung trung tiện khởi Chính,
Nghịch hồi số chí sinh nguyệt phân,
Bản nguyệt thuận khởi Tý thời vị,
Sinh thời đáo xứ an Đẩu Quân.
(Từ cung Thái Tuế khởi tháng Giêng,
Đếm nghịch cho tới số tháng sinh
Tại đó lại khởi giờ Tý
Đếm thuận tới giờ sinh an Đẩu Quân).
Giả như Lưu niên Giáp Tý thì Thái Tuế tại cung Tý, khởi đếm tháng Giêng và đi nghịch đến tháng sinh rồi dừng lại, tại cung đó khởi đếm giờ Tý và đi thuận đến giờ sinh rồi an Đẩu Quân. Tại đó khởi Tháng Giêng của Lưu niên rồi cứ lần lượt đi thuận mỗi cung một tháng cho hết 12 tháng của năm ấy.
Tại cung Nguyệt hạn khởi ngày mồng 1, tại cung Nhật hạn khởi giờ Tý, đều là thuận hành cả.
QNB chú: Cách an Nguyệt Hạn theo sách này là dựa vào vị trí của sao Đẩu Quân theo năm Lưu Niên. Còn các cách an Nhật Hạn, Thời Hạn, đều giống như chúng ta vẫn biết.
53. Định Lưu niên Văn Xương tinh quyết
Giáp xà Ất mã báo quân tri,
Bính Mậu thân cung Đinh Kỷ kê,
Canh trư Tân thử Nhâm phùng hổ,
Quý nhân kiến thỏ bộ vân thê.
Lấy Thiên Can lưu niên làm chủ, như năm Giáp Tý thì LN Văn Xương an tại cung Tị (xà), còn như lưu niên Ất Sửu thì LN Văn Xương an tại cung Ngọ (mã). Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
54. Định Lưu Sát quyết
Dần Ngọ Tuất, Sát tại bắc phương Hợi Tý Sửu,
Hợi Mão Mùi, sát tại tây phương Thân Dậu Tuất,
Thân Tý Thìn, sát tại nam phương Tị Ngọ Mùi,
Tị Dậu Sửu, sát tại đông phương Dần Mão Thìn.
Lấy Địa Chi năm Lưu Niên làm chủ, giả như Lưu Niên thuộc các năm Dần Ngọ Tuất thì an Sát tại các cung Hợi Tý Sửu, ngoài ra cứ phỏng theo đó.
QNB chú: thực ra đây chính là vị trí của các sao Kiếp Sát, Đại Sát (Tai Sát) và Thiên Sát của vòng Tướng Tinh an theo Tam Hợp Cục.
55. Định Trúc La tam hạn quyết
Chỉ luận tam phương Sát Phá Lang,
Trúc La tam hạn thử trung tường
Dần Mão Thìn nhân an Tị Sửu,
Tị Ngọ Mùi nhân phạ Thân Thìn,
Thân Dậu Tuất nhân cư Hợi Mão,
Hợi Tý Sửu nhân Dần Tuất hoán.
Đều lấy Địa Chi năm sinh làm chủ, giả như người sinh năm Dần năm Mão năm Thìn thì tại Tị cung an Cô Thần, tại Sửu cung an Quả Tú. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
42. An Kiếp Sát tinh
Thân Tý Thìn nhân Xà khẩu khai,
Hợi Mão Mùi nhân Hầu tốc tẩu,
Dần Ngọ Tuất nhân Trư diện hắc,
Tị Dậu Sửu nhân Hổ bào hao.
Đều lấy Địa Chi năm sinh mà xem, giả như người sinh năm Thân năm Tý năm Thìn thì tại cung Tị (Xà) an Kiếp Sát. Ngoài ra cứ phỏng theo đó. (Hầu = khỉ = cung Thân; Trư = Lợn = cung Hợi; Hổ = cung Dần).
43. An Hoa Cái tinh quyết
Thân Tý Thìn nhân Thìn thượng thị,
Tị Dậu Sửu nhân Sửu thượng tiệt,
Hợi Mão Mùi nhân Mùi thượng thị,
Dần Ngọ Tuất nhân Tuất thượng đương.
Lấy Địa Chi năm sinh làm chủ, giả như người sinh năm Thân năm Tý năm Thìn thì đều tại cung Thìn an sao Hoa Cái. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
44. An Đào Hoa Sát quyết
Dần Ngọ Tuất, Thỏ mao lý xuất,
Thân Tý Thìn, Kê loạn nhân luân,
Hợi Mão Mùi, Thử đương đầu kỵ,
Tị Dậu Sửu, Mã nam phương tẩu.
Đều lấy Địa Chi năm sinh làm chủ, giả như người sinh năm Dần năm Ngọ năm Tuất thì đều an Đào Hoa tại cung Mão (Thỏ). Ngoài ra cứ phỏng theo đó. (Kê = gà = cung Dậu; Thử = chuột = cung Tý; Mã = ngựa = cung Ngọ).
QNB chú: sách này có sử dụng sao Đào Hoa giống như chúng ta, sao này họ còn gọi là sao Hàm Trì.
45. An Đại Hao quyết
Thử kỵ Dương đầu thượng,
Ngưu sân Mã bất canh,
Hổ tăng Kê uế đoản,
Thỏ oán Hầu bất bình,
Long hiềm Trư diện hắc,
Xà kinh Khuyển phệ thanh,
Hữu nhân phạm thử sát, (người nào phạm sát tinh ấy)
Tài thực tán linh đình. (Tiền tài y thực tiêu tán điêu linh)
Cũng đều lấy Địa Chi năm sinh làm chủ, giả như người sinh năm Tý thì an Đại Hao tại cung Mùi. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
QNB chú: sao Đại Hao này an theo Địa Chi như trong Thất Chính Tứ Dư (Quả Lão Tinh Tông) chứ không phải sao Đại Hao an theo Thiên Can như chúng ta vẫn biết.
46. An Phá Toái quyết
Tý Ngọ Mão Dậu tị,
Dần Thân Tị Hợi kê,
Thìn Tuất Sửu Mùi sửu,
Phạm chi tài bất nghi. (phạm vào thì tiền tài không ưa)
Cũng đều lấy Địa Chi năm sinh làm chủ, giả như người sinh các năm Tý Ngọ Mão Dậu thì Phá Toái an tại cung Tị. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
47. An sinh niên Thái Tuế thập nhị thần quyết
(an 12 Thần theo Thái Tuế năm sinh)
Thái Tuế, Thái Dương, Tang Môn khởi,
Thái Âm, Quan Phù, Tử Phù hóa,
Tuế Phá, Long Đức, Bạch Hổ thần,
Phúc Đức, Điếu Khách, Bệnh Phù chỉ.
Lấy Địa Chi năm sinh làm chủ, giả như người sinh năm Tý thì chẳng kể nam nữ đều tại Tý an Thái Tuế, sau đó đi thuận mỗi cung an một sao như trên.
QNB chú: các sao “Thái Dương” và “Thái Âm” trong vòng Thái Tuế này, chính là các sao Thiếu Dương và Thiếu Âm mà chúng ta vẫn biết.
48. An sinh niên Bác Sĩ thập nhị thần quyết
(an 12 Thần theo vòng Bác Sĩ)
Bác Sĩ, Lực Sĩ, Thanh Tong, Tiểu,
Tướng Quân, Tấu Thư, Phi Liêm kế,
Hỉ Thần, Bệnh Phù, Đại Hao tinh,
Phục Binh đáo xử Quan Phù liễu.
Phàm mệnh đều lấy cung vị Lộc Tồn làm chủ, giả như Dương Nam Âm Nữ mà Lộc tại Dần thì từ cung Dần khởi an Bác Sĩ rồi đi thuận mỗi cung an một sao, nếu như Âm Nam Dương Nữ thì lại đi nghịch. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
49. Định Đại Hạn
Đại Hạn tựu tòng Cục số số,
Nam Nữ nghịch số phân âm dương,
Dương Nam Âm Nữ thuận thôi tái,
Âm Nam Dương Nữ nghịch hành chân.
(Đại Hạn thì đếm theo số Cục
Nam Nữ thuận nghịch phân âm dương
Dương nam Âm nữ thì thuận tiến
Âm nam Dương nữ lại nghịch hành).
Phàm đều lấy cung Mệnh làm chủ, giả như người Dương Nam Âm Nữ mà cung Mệnh lập tại Tý thuộc Kim Tứ Cục, liền từ cung Tý khởi 4 tuổi rồi đi thuận sang Sửu là 14 tuổi, mỗi cung chủ 10 năm lần lượt theo số Cục. Nếu như là Âm Nam Dương Nữ mà có Mệnh lập tại cung Tý, Kim Tứ Cục, thì tại cung Tý khởi 4 tuổi, đi nghịch sang Hợi là 14 tuổi, lần lượt mỗi cung 10 năm.
Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
50. Định Tiểu Hạn quyết
Dần Ngọ Tuất nhân Thìn thượng khởi,
Thân Tý Thần nhân Tuất thượng thôi,
Hợi Mão Mùi nhân Sửu thượng thị,
Tị Dậu Sửu nhân Mùi thượng quy.
Lấy Địa Chi năm sinh làm chủ, giả như người sinh vào các năm Dần Ngọ Tuất thì đều tại cung Thìn mà khởi 1 tuổi, mỗi năm một cung, nam thì đi thuận nữ đi nghịch. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
QNB chú cho 2 mục 49 & 50:
Khác với TVĐS Toàn Thư khởi Đại Hạn từ các cung Phụ/Bào, ở đây TVĐS Toàn Tập khởi Đại Hạn từ cung Mệnh.
Về Tiểu Hạn thì không có gì khác biệt. Con số tuổi mà phần diễn giải bên dưới bài ca quyết chỉ là số tuổi tương ứng với Địa Chi tuổi mà thôi. Nó không có liên quan gì đến số tuổi theo cách tính Lưu Niên Đại Hạn mà giới TV Việt hay dùng.
51. Định Tiểu Nhi Đồng Hạn quyết
(xác định hạn của trẻ con)
Nhất Mệnh nhị Tài tam Tật Ách,
Tứ tuế Phu Thê ngũ Phúc Đức,
Lục tuế Quan Lộc thuận lưu hành,
Thất Bát Cửu tuế vô gian cách.
Phàm mệnh của trẻ con thì chẳng kể nam nữ, đều tại cung Mệnh là cung hạn 1 tuổi, tại cung Tài Bạch là cung hạn 2 tuổi, tại Tật Ách là cung hạn 3 tuổi, tại cung Phu Thê là cung hạn 4 tuổi, tại cung Phúc Đức là cung hạn 5 tuổi, ngoài ra cứ phỏng theo đó, mỗi cung theo các sao cát hung mà đoán, xem Lưu Niên Thái Tuế có cát hung thần sát cùng đoán.
52. An lưu niên Đẩu Quân pháp
Thái Tuế cung trung tiện khởi Chính,
Nghịch hồi số chí sinh nguyệt phân,
Bản nguyệt thuận khởi Tý thời vị,
Sinh thời đáo xứ an Đẩu Quân.
(Từ cung Thái Tuế khởi tháng Giêng,
Đếm nghịch cho tới số tháng sinh
Tại đó lại khởi giờ Tý
Đếm thuận tới giờ sinh an Đẩu Quân).
Giả như Lưu niên Giáp Tý thì Thái Tuế tại cung Tý, khởi đếm tháng Giêng và đi nghịch đến tháng sinh rồi dừng lại, tại cung đó khởi đếm giờ Tý và đi thuận đến giờ sinh rồi an Đẩu Quân. Tại đó khởi Tháng Giêng của Lưu niên rồi cứ lần lượt đi thuận mỗi cung một tháng cho hết 12 tháng của năm ấy.
Tại cung Nguyệt hạn khởi ngày mồng 1, tại cung Nhật hạn khởi giờ Tý, đều là thuận hành cả.
QNB chú: Cách an Nguyệt Hạn theo sách này là dựa vào vị trí của sao Đẩu Quân theo năm Lưu Niên. Còn các cách an Nhật Hạn, Thời Hạn, đều giống như chúng ta vẫn biết.
53. Định Lưu niên Văn Xương tinh quyết
Giáp xà Ất mã báo quân tri,
Bính Mậu thân cung Đinh Kỷ kê,
Canh trư Tân thử Nhâm phùng hổ,
Quý nhân kiến thỏ bộ vân thê.
Lấy Thiên Can lưu niên làm chủ, như năm Giáp Tý thì LN Văn Xương an tại cung Tị (xà), còn như lưu niên Ất Sửu thì LN Văn Xương an tại cung Ngọ (mã). Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
54. Định Lưu Sát quyết
Dần Ngọ Tuất, Sát tại bắc phương Hợi Tý Sửu,
Hợi Mão Mùi, sát tại tây phương Thân Dậu Tuất,
Thân Tý Thìn, sát tại nam phương Tị Ngọ Mùi,
Tị Dậu Sửu, sát tại đông phương Dần Mão Thìn.
Lấy Địa Chi năm Lưu Niên làm chủ, giả như Lưu Niên thuộc các năm Dần Ngọ Tuất thì an Sát tại các cung Hợi Tý Sửu, ngoài ra cứ phỏng theo đó.
QNB chú: thực ra đây chính là vị trí của các sao Kiếp Sát, Đại Sát (Tai Sát) và Thiên Sát của vòng Tướng Tinh an theo Tam Hợp Cục.
55. Định Trúc La tam hạn quyết
Chỉ luận tam phương Sát Phá Lang,
Trúc La tam hạn thử trung tường
Nhược gia Cự Ám hung tinh hội,
Đại tiểu hạn ngộ nhập tuyền hương.
(Chỉ luận tam phương Sát Phá Lang
Trúc La tam hạn đó phải tường
Nếu thêm Cự Ám hung tinh hội
Đại Tiểu hạn gặp nhập tuyền đường)
Phàm Đại Tiểu nhị hạn mà Tam Phương Tứ Chính gặp Sát Phá Lang, lại gặp thêm cự ám tính cùng với lưu niên Thái Tuế sát tinh giao hội, năm đó tất sẽ hung hiểm.
56. Định lưu niên thái tuế sở trị cát tinh định cục
…………………………Tý……Sửu…..Dần….Mão….Thìn…..Tị…..Ngọ….Mùi….Thân…..Dậu…..Tuất…..Hợi
Thiên Đức chủ cát:
………………………….dậu….tuất……hợi……tý…….sửu….dần….mão….thìn……tị……..ngọ……mùi…..thân
Nguyệt Đức chủ cát:
……………………………tị……ngọ…..mùi…..thân….dậu….tuất…..hợi……tý……sửu……dần……mão…thìn
Nguyệt Kiến cát:
……………………………tị……ngọ…..mùi…..thân….dậu…..tuất…..hợi……tý……sửu……dần…….mão…thìn
Long Đức cát:
………………………….mùi….thân…..dậu…..tuất….hợi……tý…….sửu…..dần….mão…..thìn……..tị……ngọ
Phúc Đức chủ phúc:
…………………………dậu….tuất…..hợi………tý…..sửu….dần….mão….thìn……tị……..ngọ…..mùi….thân
Giải Thần giải ách:
………………………….tuất…dậu…..thân…..mùi……ngọ…..tị……thìn….mão…..dần…….sửu…..tý……hợi
Thái Dương:
………………………….sửu…dần…..mão…..thìn…….tị……ngọ….mùi….thân….dậu……tuất…..hợi……tý
Thái Âm:
………………………….mão…thìn……tị…….ngọ……mùi….thân….dậu…..tuất…..hợi…….tý…….sửu…dần
Hồng Loan chủ hỉ:
………………………….mão…dần…..sửu……tý……..hợi……tuất….dậu…..thân…..mùi…..ngọ…..tị…..thìn
Thiên Hỉ chủ khánh:
………………………….dậu…thân….mùi…..ngọ……..tị…….thìn….mão……dần…..sửu……tý…….hợi…tuất
Tước Tinh chủ quan:
……………………………tý…..sửu….dần…..mão….thìn……..tị……ngọ…..mùi……thân….dậu…..tuất….hợi
57. Định lưu niên thái tuế sở trị hung tinh định cục
…………………………..Tý……sửu……dần……mão……thìn…..tị…..ngọ…..mùi…..thân…..dậu…..tuất…..hợi
Thái Tuế chủ hung:
…………………………..Tý……sửu……dần……mão……thìn…..tị…..ngọ…..mùi…..thân…..dậu…..tuất…..hợi
(QNB chú: vì kẻ bảng thì đưa lên diễn đàn sẽ hơi phức tạp, mà mô tả dạng bảng kiểu như trên thì theo dõi hơi rối mắt, nên sau đây tôi dùng lời để mô tả).
Sát Nhận chủ huyết quang: năm Tý tại Tuất, năm Sửu tại Dậu, lần lượt đi nghịch, năm Hợi tại Hợi.
Phù Trầm chủ thủy ách: năm Tý tại Tuất, năm Sửu tại Dậu, lần lượt đi nghịch, năm Hợi tại Hợi.
Phục Thi dạ sự: theo đúng chỗ vị trí của Thái Tuế mỗi năm.
Kiếm Phong đao thương: theo đúng chỗ vị trí của Thái Tuế mỗi năm.
Hỏa Huyết chủ hỏa tai: năm Tý tại Sửu, năm Sửu tại Dần, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Tý.
Thiên Không chủ hư hoa: năm Tý tại Sửu, năm Sửu tại Dần, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Tý.
Tang Môn chủ hiếu phục: năm Tý tại Dần, năm Sửu tại Mão, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Sửu.
Dịch Mã viễn hành: lần lượt từ năm Tý đến năm Hợi nhảy các vị trí Dần – Hợi – Thân – Tị
Câu Giảo chủ thị phi: năm Tý tại Mão, năm Sửu tại Thìn, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Dần.
Quán Sách lao ngục: năm Tý tại Mão, năm Sửu tại Thìn, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Dần.
Quan Phù quan tai: năm Tý tại Thìn, năm Sửu tại Tị, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Mão.
Huyết Cổ chủ huyết ách: năm Tý tại Thìn, năm Sửu tại Tị, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Mão.
Ngũ Quỷ quan sự: năm Tý tại Thìn, năm Sửu tại Tị, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Mão.
Phi Phù bạo tật: năm Tý tại Thìn, năm Sửu tại Tị, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Mão.
Tử Phù chủ hung: năm Tý tại Tị, năm Sửu tại Ngọ, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Thìn.
Tiểu Hao chủ mất của: năm Tý tại Tị, năm Sửu tại Ngọ, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Thìn.
Đại Hao chủ mất việc cày cấy: năm Tý tại Ngọ, năm Sửu tại Mùi, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Tị.
Tuế Phá phá tài: năm Tý tại Ngọ, năm Sửu tại Mùi, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Tị.
Lan Can lao ngục: năm Tý tại Ngọ, năm Sửu tại Mùi, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Tị.
Nguyệt Không chủ hư hao: năm Tý tại Ngọ, năm Sửu tại Mùi, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Tị.
Báo Bại tai họa gấp: năm Tý tại Mùi, năm Sửu tại Thân, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Ngọ.
Thiên ách chủ bệnh: năm Tý tại Mùi, năm Sửu tại Thân, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Ngọ.
Âm Sinh: năm Tý tại Mùi, năm Sửu tại Thân, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Ngọ.
Bạch Hổ chủ huyết quang: năm Tý tại Thân, năm Sửu tại Dậu, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Mùi.
Phi liêm hung ác: năm Tý tại Dần, năm Sửu tại Mão, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Sửu.
Quyển Thiệt thưa tụng: năm Tý tại Dậu, năm Sửu tại Tuất, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Thân.
Điếu Khách hiếu phục: năm Tý tại Tuất, năm Sửu tại Hợi, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Dậu.
Thiên Cẩu hại dung mạo: năm Tý tại Tuất, năm Sửu tại Hợi, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Dậu.
Huyết Nhận đao thương: năm Tý tại Tuất, năm Sửu tại Hợi, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Dậu.
Bệnh Phù bệnh lâu: năm Tý tại Hợi, năm Sửu tại Tý, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Tuất.
Phi Đầu: năm Tý tại Thìn, năm Sửu tại Mão, lần lượt đi nghịch, năm Hợi tại Tị.
Thiên Khốc: năm Tý tại Ngọ, năm Sửu tại Tị, lần lượt đi nghịch, năm Hợi tại Mùi.
Thiên Hư chủ hư hoa: năm Tý tại Ngọ, năm Sửu tại Mùi, lần lượt đi thuận, năm Hợi tại Tị.
Phi Tài chủ mất tiền tài: Năm Tý tại Ngọ, năm Sửu tại Tý, năm Dần tại Thìn, năm Mão tại Sửu, năm Thìn tại Tuất, năm Tị tại Mùi, năm Ngọ tại Hợi, năm Mùi tại Thân, năm Thân tại Dậu, năm Dậu tại Dần, năm Tuất tại Mão, năm Hợi tại Tị.
Cô Thần cô khổ: Năm Tý Sửu tại Dần, năm Dần Mão Thìn tại Tị, năm Tị Ngọ Mùi tại Thân, năm Thân Dậu Tuất tại Hợi, năm Hợi tại Dần.
Quả Tú vô tình: Năm Tý Sửu tại Tuất, năm Dần Mão Thìn tại Sửu, năm Tị Ngọ Mùi tại Thìn, năm Thân Dậu Tuất tại Mùi, năm Hợi tại Tuất.
Lục Hại tự sát hại: Năm Tý tại Mão, năm Sửu tại Tý, năm Dần tại Dậu, năm Mão tại Ngọ, năm Thìn tại Mão, năm Tị tại Tý, năm Ngọ tại Dậu, năm Mùi tại Ngọ, năm Thân tại Mão, năm Dậu tại Tý, năm Tuất tại Dậu, năm Hợi tại Ngọ.
Hoa Cái cao ngạo: lần lượt từng năm từ Tý đến Hợi sẽ nhảy qua các vị trí “Thìn – Sửu – Tuất – Mùi”.
Kiếp Sát chủ cướp đường: lần lượt từng năm từ Tý đến Hợi sẽ nhảy qua các vị trí “Tị Dần Hợi Thân”.
Thiên Sát chủ hung ách: lần lượt từng năm từ Tý đến Hợi sẽ nhảy qua các vị trí “Ngọ Mão Tý Dậu”.
Địa Sát chủ hung ách: lần lượt từng năm từ Tý đến Hợi sẽ nhảy qua các vị trí “Mùi Thìn Sửu Tuất”.
Niên Sát tai nạn một năm: lần lượt từng năm từ Tý đến Hợi sẽ nhảy qua các vị trí “Thân Tị Dần Hợi”.
Nguyệt Sát tai nạn một tháng: lần lượt từng năm từ Tý đến Hợi sẽ nhảy qua các vị trí “Dậu Ngọ Mão Tý”.
Vong Thần tử vong: lần lượt từng năm từ Tý đến Hợi sẽ nhảy qua các vị trí “Tuất Mùi Thìn Sửu”.
Tướng Tinh binh nghiệp chính trị: lần lượt từng năm từ Tý đến Hợi sẽ nhảy qua các vị trí “Hợi Thân Tị Dần”.
Phan An tùy theo xa giá: lần lượt từng năm từ Tý đến Hợi sẽ nhảy qua các vị trí “Tý Dậu Ngọ Mão”.
QNB chú: Hai mục 56 và 57 có một số Thần Sát không quen thuộc, những người chưa biết có thể tham khảo thêm tính chất chủ cát hung, những người biết rồi thì có thể tra soát lại tính chất của các sao này ứng với các sao mà quý vị quen thuộc theo các vị trí tương ứng để khỏi phải nhớ quá nhiều thần sát.
58. Định tiểu nhi Quan Sát đẳng tinh quyết (định các sao Quan Sát cho trẻ con)
QNB chú: các Quan – Sát sau đây nếu độc giả nào muốn biết chi tiết thì xin mời tham khảo trong các sách Mệnh lý Tứ Trụ (tức Tử Bình) thì sẽ rõ. Đây là một trong những dấu tích có sự liên quan của môn Tử Vi Đẩu Số với tiền thân của nó là môn Thập Bát Phi Tinh và với người anh em của nó là môn Tử Bình Tứ Trụ. Đồng thời cũng nhận thấy dấu tích sự kế thừa một số phần từ các môn thuộc hệ thống Dịch Học Tượng Số qua Thời điểm Vị trí của Thái Dương trên Hoàng Đạo.
* Bách Nhật quan
Dần thân tị hợi nguyệt, kỵ thìn tuất sửu mùi thì.
Thìn tuất sửu mùi nguyệt, kỵ tý ngọ mão dậu thì.
Tý ngọ mão dậu nguyệt, kỵ dần thân tị hợi thì
(Các tháng Dần Thân Tị, kị gặp giờ Thìn Tuất Sửu Mùi.
Các tháng Thìn Tuất Sửu Mùi, kị gặp giờ Tý Ngọ Mão Dậu.
Các tháng Tý Ngọ Mão Dậu, kị gặp giờ Dần Thân Tị Hợi).
Phàm gặp Nguyệt kiến Dần Thân Tị Hợi mà gặp các giờ Thìn Tuất Sửu Mùi thì là như vậy.
* Đoản Mệnh quan
Dần Ngọ Tuất, Long đương,
Tị Dậu Sửu, Hổ hương,
Thân Tý Thìn, Xà thượng,
Hợi Mão Mùi tầm Dương.
Lấy Địa Chi năm sinh làm chủ, phạm vào các giờ trên (Thìn, Dần, Tị, Mùi) thì là như vậy.
* Quỷ Môn quan
Tý sinh phạ Dậu, Ngọ hiềm Sửu,
Dần Mùi, Thân Mão bất tương an,
Hợi phạ Thìn cung, Tuất phạ Tị,
Định nhiên hào khấp quỷ môn quan.
(Sinh năm Tý sợ phạm giờ Dậu, năm Ngọ thì ngại giờ Sửu,
Sinh năm Dần sợ giờ Mùi, năm Thân sợ giờ Mão, đều không được an ổn
Sinh năm Hợi sợ giờ Thìn, năm Tuất sợ giờ Tị,
Nhất định gào khóc ở quỷ môn quan)
Thí dụ như người sinh năm Dần mà phạm giờ Mùi thì như vậy, các giờ khác thì không làm sao.
* Chàng Mệnh quan
Tý thỏ, Dần xà, Sửu tuất sư,
Thìn long, Mão thử, Tị hầu nhi,
Mùi ngưu, Thân ngọ đồng hiềm mã,
Hợi phạ trư hề, Dậu phạ kê.
Nếu phạm phải thì hợp cho làm con thừa tự, con nuôi, cách tổ tông, thì được cát lành.
* Tứ Trụ quan
Chính thất hưu sinh tị hợi thì,
Nhị bát thìn tuất bất kham thôi,
Tam cửu mão dậu sinh nhân ác,
Lục thập nhị nguyệt tý ngọ nghi,
Tiểu nhi nhược phạm thử quan sát,
Phụ mẫu bất cửu chủ phân ly.
(Tháng Giêng tháng Bảy, sinh giờ Tị Hợi,
Tháng Hai tháng Tám, sinh giờ Thìn Tuất
Tháng Ba tháng Chín, sinh giờ Mão Dậu
Tháng Sáu tháng Chạp, sinh giờ Tý Ngọ
Tiểu nhi mà phạm vào quan sát ấy
Phụ mẫu sẽ không bền dễ phân ly).
Lấy tháng sinh làm chủ, nếu phạm các giờ trên thì là như vậy.
* Kim Tỏa quan
Tý Sửu Thìn Tị giai hiềm khuyển,
Dần Mão hiềm xà, Ngọ Mùi dương,
Thân Dậu sinh nhân thiên phạ thử,
Tuất Hợi chi niên trư thượng đương.
(Sinh năm Tý Sửu Thìn Tị đều ngại giờ Tuất
năm Dần Mão ngại giờ Tị, năm Ngọ Mùi sợ giờ Mùi
năm Thân Dậu thì e ngại giờ Tý
năm Tuất Hợi thì sợ gặp phải giờ Hợi).
Thí dụ người sinh năm Thìn Tị mà gặp giờ Tuất thì là như vậy.
* Tướng Quân tiễn
Dậu tuất thìn thì xuân bất trụ,
Mùi mão tý thì hạ trung vong,
Dần ngọ sửu thì thu tất kỵ,
Đông thì thân hợi tị vi ương,
Nhất tiễn thương nhân tam tuế tử,
Nhị tiễn tu giáo lục tuế vong,
Tam tiễn cửu tuế nhi tương tử,
Tứ tiễn thập nhị tiện thân vong.
(Sinh vào mùa Xuân đừng gặp giờ Dậu Tuất Thìn
Mùa Hạ thì đừng gặp giờ Mùi Mão Tý
Mùa Thu thì kị gặp giờ Dần Ngọ Sửu
Mùa Đông thì gặp tai ương ở các giờ Thân Hợi Tị
Mũi tên thứ nhất tổn thương người, 3 tuổi thì chết
Mũi tên thứ hai cần biết 6 tuổi sẽ vong
Mũi tên thứ ba thì 9 tuổi sẽ bỏ mạng
Mũi tên thứ tư thì 12 tuổi sẽ qua đời).
Thí dụ như sinh vào 3 tháng của mùa Xuân mà gặp các giờ Dậu Tuất Thìn thì là như vậy.
* Mai Nhi sát
Dần thân tị hợi niên sinh nhân kỵ thân thì,
Tý ngọ mão dậu niên sinh nhân kỵ sửu thì,
Thìn tuất sửu mùi niên sinh nhân kỵ mão thì.
(Sinh năm Dần Thân Tị Hợi thì kị giờ Thân
năm Tý Ngọ Mão Dậu thì kị giờ Sửu
năm Thìn Tuất Sửu Mùi thì kị giờ Mão).
Người phạm vào sát ấy thì sẽ bị hình khắc.
* Lưu Hà sát
Giáp kê, Ất khuyển, Bính gia dương,
Đinh thị hầu hương, Mậu thị xà,
Kỷ mã, Canh long, Tân trục thỏ,
Nhâm trư, Quý hổ thị Lưu Hà.
Kẻ phạm phải thì nam sẽ tha hương còn nữ chủ mắc sản nạn.
QNB chú: chữ “Lưu” viết 流 nghĩa là chảy, trôi, lưu chuyển, lưu truyền, dòng nước,… chữ “Hà” viết 霞 nghĩa là ráng trời, đám mây có màu sắc với màu đỏ là chủ đạo.
* Băng tiêu ngõa bại
Chính xà, nhị thử, tam ngưu tẩu,
Tứ hầu, ngũ thỏ, lục nguyệt cẩu,
Thất trư, bát mã, cửu dương đương,
Thập nguyệt long xà hung tự thủ,
Thập nhất kim kê lương thượng khiếu,
Thập nhị hổ tọa đương lộ khẩu.
(Tháng Giêng giờ Tị, tháng Hai giờ Tý, tháng Ba giờ Sửu
Tháng Tư giờ Thân, tháng Năm giờ Mão, tháng Sáu giờ Tuất
Tháng Bảy giờ Hợi, tháng Tám giờ Ngọ, tháng Chín giờ Mùi
Tháng Mười giờ Thìn hung tự chuốc
Tháng Một giờ Dậu gà gáy trên mái nhà
Tháng Chạp giờ Dần gặp hổ giữa đường).
Thí dụ người sinh vào tháng Giêng giờ Tị lại cũng an ở cung Tị thì là như vậy, ngoài ra cứ phỏng theo đó.
* Thôn Đạm sát
Khuyển phùng Kê tử t*o đồ phối,
Xà dữ Thỏ ca tẩu viễn hương,
Thử kiến Khuyển hề đương ác tử,
Mã Ngưu phùng Hổ định tương thương,
Thỏ Hầu phùng Khuyển tu hồi tị,
Long lai Mùi thượng thủy trung ương
Phàm nhân nhược trị thử thì nhật,
Tam hợp vi tai tử tế tường.
Lấy thời gian sở thuộc, Ngày gặp Giờ chính là nó.
* Quỷ Hạn ca
Quỷ hạn nguyên lai tối khả ưu,
Dục tri thọ yểu hướng tư cầu,
Kim ca xuất khứ hưu kỵ Mã,
Hỏa đệ quy lai mạc khóa Ngưu,
Mộc ngộ Thỏ thần tu viễn tị,
Thủy phùng Kê vị thực kham ưu,
Thổ nhân cánh kỵ lâm Trư thượng,
Nan bảo quang âm đáo bạch đầu.
(Quỷ hạn vốn dĩ rất đáng lo
Muốn biết thọ yểu thì cần dò
Anh Kim đi tới không cưỡi Ngựa
Em Hỏa lui về chớ cưỡi Trâu
Mộc gặp Thỏ thần cần xa lánh
Thủy thấy nơi Gà thực đáng lo
Thổ nhân thêm kị vào chỗ Lợn
Khó giữ vẻ vang tới bạc đầu).
Giả như người sinh năm Giáp Tý Ất Sửu có Nạp Âm thuộc Hải Trung Kim, gặp giờ sinh là giờ Ngọ chính là như vậy.
Lấy Nạp Âm năm sinh làm chủ, theo giờ mà an.
* Thiên Cẩu sát
Tý nhân kiến Khuyển, Sửu Trư nghi,
Dần nhân kiến Thử, Mão Ngưu thì,
Thìn nhân kiến Hổ, Tị kiến Mão,
Ngọ nhân Long thượng, Mùi Xà nhi,
Thân nhân kiến Ngọ, Dậu kiến Mùi,
Tuất nhân Hầu thượng, Hợi hiềm Kê.
Giả như người sinh năm Tý mà sinh vào giờ Tuất thì chính là như vậy, nếu an tại cung Tuất cũng thế. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
* Bát bại sát
Mùi Tuất Hợi sinh Thìn nguyệt sân,
Tý Thìn Tị mệnh Mùi cung chân,
Sửu Dậu Thân sinh hiềm Tuất nguyệt,
Mão Dần Ngọ mệnh Sửu vi trần.
Giả như người sinh vào các năm Mùi Tuất Hợi mà sinh vào tháng Thìn thì là vậy, an tại cung Thìn cũng thế.
* Diêm vương quan
Xuân kỵ Ngưu Dương thủy thượng ba,
Hạ phùng Thìn Tuất kiến diêm la,
Thu phùng Tý Ngọ quân tu tị,
Đông quý sinh nhân Kê Thỏ ta.
Tức áp dụng cho 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông.
* Tứ Quý quan
Xuân quan Ngưu dữ Xà,
Hạ sinh Long Hầu ta,
Thu kỵ Dương Trư vị,
Đông Khuyển Hổ giao gia.
Giả như người sinh vào 3 tháng của mùa Xuân mà gặp các giờ Sửu Tị (Ngưu, Xà) thì là hung, nếu an tại 2 cung Tị Sửu thì cũng vậy. Ngoài ra phỏng theo đó.
* Thiết Xà quan
Dần Ngọ Tuất nhân Long tự đương,
Tị Dậu Sửu nhân nhập Hổ hương,
Thân Tý Thìn nhân Xà vị thượng
Hợi Mão Mùi nhân Dương thượng đương.
Lấy năm sinh làm chủ mà áp dụng.
* Dục Bồn quan
Dục Bồn chi sát tối vô lương,
Xuân nguyệt kỵ Thìn, Hạ kỵ Dương,
Thu quý Khuyển nhi thiết tu kỵ,
Đông nguyệt phùng Sửu định tu thương.
Lấy các tháng tứ quý mà áp dụng.
* Bạch Hổ quan
Hỏa nhập Bạch Hổ tu tại Tý,
Kim nhân Bạch Hổ Mão chi phương,
Thủy Thổ sinh nhân Bạch Hổ Ngọ,
Mộc nhân Bạch Hổ Dậu trung tàng.
Lấy sở thuộc Nạp Âm năm sinh, an cung phận mà áp dụng.
* Kê Phi quan
Giáp Kỷ tị dậu sửu,
Canh Tân hợi mão mùi,
Nhâm Quý dần ngọ tuất,
Ất Mậu Bính Đinh tý.
Lấy Thiên Can năm sinh làm chủ mà áp dụng.
* Lôi Công Đả Não quan
Giáp Ất phùng Ngưu Mã bất tường,
Bính Đinh kiến Thử hữu tai ương,
Mậu Kỷ sinh nhân phùng Khuyển vị,
Canh Tân hựu phạ Hổ lai thương,
Nhâm Quý sinh nhân Kê Trư thị,
Nhược vô giải cứu kiến diêm vương.
Như người sinh năm Giáp Ất an vào các cửa Sửu Ngọ.
* Kim Tỏa thi
Chính Thất phùng Thân nhân tất tử,
Nhị Bát Kê hương mệnh tất ách,
Tam Cửu Khuyển nhi nan hoạt mệnh,
Tứ Thập phùng Trư thị tỏa thi,
Ngũ Thập Nhất phùng Tý dĩ tử,
Lục Thập Nhị dữ Sửu phi kỳ.
Người sinh vào tháng Giêng tháng Bảy mà gặp Thân (??? QNB chú: không nói rõ là cái gì Thân, giờ Thân hay ngày Thân hay tháng Thân hay an Mệnh ở cung có Địa Chi là Thân….) thì là như vậy.
* Cấp Cước quan
Xuân tam Hợi Tý bất quá quan,
Hạ nguyệt Mão dữ Mùi trung gian,
Thu Dần Tuất vị hoàn tu kỵ,
Đông Sửu Thìn cung tử bất nan.
Người sinh vào ba tháng mùa Xuân kị gặp phải giờ (sinh) là Hợi Tý, nếu Mệnh an ở các cung Hợi Tý cũng thế. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
* Cấp Cước sát
Giáp Ất mệnh nhân Thân Dậu thị,
Bính Đinh Hợi Tý thực kham bi,
Mậu Kỷ phạ phùng Dần Mão thượng,
Canh Tân Tị Ngọ bất tu nghi,
Nhâm Quý thiết tu phòng Sửu Mùi,
Cánh gia Thìn Tuất mệnh t*o ách.
Như người sinh năm Giáp năm Ất mà trúng giờ Thân giờ Dậu thì là vậy, nếu an ở các cung Thân Dậu cũng thế. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
* Bát Bại quan
Dậu Tuất Thìn thì, Xuân bất vượng
Mùi Mão Tý thì, Hạ trung vong,
Thân Mệnh nhược nhiên phùng Bát Bại,
Tác sự cầu mưu nhân bất khoái,
Hoành thành hoành phá tổng vô thường,
Mệnh kiên Thân cố đa miễn hại.
(Xuân sinh giờ Dậu Tuất Thìn chẳng được vượng
Hạ sinh giờ Mùi Mão Tý thì dễ vong
Thế là Thân Mệnh gặp phải Bát Bại
Chẳng vui vẻ gì cho cầu mưu tác sự
Có thành có bại, cuối cùng cũng là vô thường
Nếu mà Mệnh Thân vững chắc thì thì chẳng bị hại).
* Chỉ Bối sát
Thân Tý Thìn nhân kiến Thân thị,
Hợi Mão Mùi sinh nhân kiến Hợi,
Dần Ngọ Tuất nhân hựu phùng Dần,
Tị Dậu Sửu nhân hựu kiến Tị.
Như người sinh năm Thân mà gặp Tháng Ngày Giờ Thân thì là như vậy.
* Khắc Tự sát
Kim nhân Tuất Hợi Tý Dần thì,
Mộc nhân Thìn Tị Ngọ Thân câu,
Thủy Thổ Sửu Dần kiêm Mão Tị,
Hỏa nhân Thân Mùi tịnh Kê Trư.
Lấy Nạp Âm năm sinh mà áp dụng, chủ không có con cái.
* Hồng Diễm sát
Giáp mã Đinh dương hoàn Bính hổ,
Lục Canh phạ tuất, lục Tân kê,
Mậu Kỷ thìn thì, Nhâm phạ tý,
Nguyên lai Ất Quý cộng thân thì,
Cánh phùng thiên lộc thiên mã hội,
Định tác tha hương nhất lộ kỹ,
Nhậm thị phú hào quan hoạn nữ,
Hoa tiền nguyệt hạ hội giai kỳ.
(Tuổi Giáp giờ Ngọ, tuổi Đinh giờ Mùi, còn Bính giờ Dần
Sáu tuổi Canh sợ giờ Tuất, sáu tuổi Tân sợ giờ Dậu
Các tuổi Mậu Kỷ sợ giờ Thìn, tuổi Nhâm ngại giờ Tý
Ban sơ thì Ất Quý sợ giờ Thân.
Nếu như gặp luôn Thiên Lộc Thiên Mã hội
Thì định rằng làm ca kỹ tha hương
Cho dù là con gái nhà quan lại hay nhà hào phú
Thì cũng hò hẹn với trai trước hoa dưới trăng).
Giả như người sinh năm Giáp gặp giờ Ngọ thì là như vậy, an tại cung Ngọ cũng thế, có thêm Lộc Mã càng dễ đoán là dâm. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
59. Luận định về hình dáng Tiểu Nhi theo giờ sinh
Sinh giờ Tý Ngọ Mão Dậu thì xoáy ngay chính giữa đầu, giờ Dần Thân Tị Hợi cũng chính giữa, giờ Thìn Tuất Sửu Mùi thì xoáy lệch sang bên. Có Văn Xương Văn Khúc thì có nốt ruồi hoặc cái bớt, sinh giờ Dần Mão Thìn thì nốt ruồi hay bớt màu xanh hoặc đen, sinh giờ Hợi Tý Sửu thì nốt ruồi hay bớt có màu đen sẫm, sinh giờ Tị Ngọ Mùi thì có màu hồng hoặc đỏ.
(Có) Bác Sĩ Lực Sĩ thì trên dài mà dưới ngắn (thượng trường hạ đoản, có thể hiểu là mình dài mà chân ngắn), Thanh Long Tướng Quân quyết định đầu tròn tai bé, Đại Tiểu Hao thì môi mũi lệch hếch cong nghiêng, Bệnh Phù Tướng Quân thì tiếng vang cao tính khí mạnh mẽ, Quan Phủ Tấu Thư gặp hung diệu thì lúc chào đời yếu ớt, Bạch Hổ Thái Tuế gặp hung sát “tiện niệu tê dã” (QNB chú: nguyên văn 便溺 犀也. Không rõ là muốn ám chỉ gì, có lẽ là mô tả tình trạng bài tiết đại tiểu tiện của trẻ nít khi sơ sinh!?!?). Sự hình thương phải theo vòng sinh khắc chế hóa, thêm vào đó là chỗ Đế Lộc thịnh suy như thế nào, như thế là khảo cứu tinh tế thì lo gì không biết rõ nữa.
60. Luận đoán về Tiểu Nhi
Nói đến những đứa trẻ nít, Cục số của nó so với người lớn có sự khác biệt, nhưng mà có các Quan – Sát về 4 mùa Xuân Hạ Thu Đông nếu mà tiểu nhi phạm phải thì bất luận cung phận, chỉ khán theo Đồng Hạn (hạn của trẻ con) Thái Tuế lưu sát, đồng thời Mệnh với Thân mạnh yếu thế nào. Nếu như mà đều thấy hung tất nhiên sẽ khó nuôi, nếu mà Mệnh đắc địa, Đế Lộc thủ chiếu, Thái Tuế phùng cát, thì cho dù phạm Quan – Sát hại thì cùng lắm là sinh ra bệnh tật mà thôi.
61. Hạn hành đắc số phản bối lệ (quy ước về hành hạn đắc số hay xui xẻo)
Hỏa hành Dần Ngọ cộng Xà hương,
Kim phùng Song Nữ Dậu Thân phương,
Mộc đáo Hợi cung Dần Mão vị,
Thủy Thổ Thân Hợi Tý vi lương.
(QNB chú: “Song Nữ = cung Tị)
Hỏa hành Tuất Hợi tiện vi tai,
Thủy Thổ Long Xà kỵ hữu ai,
Kim ngộ Sửu Dần tu hữu hại,
Mộc hành Thân Dậu bất tương an.
Giả như người Hỏa Cục mà hạn hành tới các cung Dần, Tị, Ngọ thì đại tiểu hạn đều cát lợi. Nếu như mà đi đến các cung Tuất Hợi thì đại tiểu hạn gặp tai nạn xui xẻo.
Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
62. Hạn hành cát hung quyết
Hưởng thông hiển đạt phùng sinh vượng,
Bệnh hoạn truân chiên ngộ tịnh xung,
Thử thị giao thương sinh tử quyết,
Cát hung tiêu tức tại kỳ trung,
Sinh vượng phát lai mộ tuyệt tử,
Mộ tuyệt phát lai sinh vượng chung.
(Hưởng thụ thành công gặp Sinh Vượng
Bệnh hoạn truân chuyên gặp hiệp xung
Đó là quyết đoán về sinh tử
Cát hung tiêu tức ở trong đó
Sinh Vượng phát đến Tử Mộ Tuyệt
Mộ Tuyệt phát đến hết Sinh Vượng).
Nói chung hạn hành tới Sinh Vượng cung tất sẽ cát lợi, ác diệu mà xung hiệp thì tất sẽ hung. Lại nếu như phát ở chỗ Sinh Vượng thì đến chỗ Mộ Tuyệt tất sẽ dừng lại. Ngoài ra cứ phỏng theo đó.
63. Luận nhị hạn Thiên La Địa Võng
Địa võng thiên la ngộ hỏa đà,
Đại hạn phùng chi họa hoạn đa,
Nhược thị mệnh trung ngũ tinh nhược,
Tu giáo hồn phách kiến diêm la.
(Ở Thiên La Địa Võng mà gặp Hỏa Đà
Đại tiểu hạn mà gặp thì lắm tai họa
Nếu như ở trong Mệnh mà các sao hãm nhược
Cần biết rằng hồn phách sẽ sớm gặp Diêm Vương).
Đại tiểu nhị hạn đến chỗ Thìn Tuất nhị cung gặp sát tinh đều rất hung hiểm.
64. Luận đảo hạn (luận về hạn đổ vỡ thất bại)
Đại hạn lưu niên Đại Hao cung,
Cánh gia Lộc đảo tất nhiên hung,
Thụy đáo minh chung mộng đoạn xứ,
Anh hùng hào kiệt nhất tràng không,
(Đại hạn với lưu niên vào cung có Đại Hao
Lại thêm gặp hạn “Lộc đảo” tất nhiên sẽ hung hiểm
Ngủ đến lúc tiếng chuông gọi hồn kêu
Anh hùng hào kiệt một cuộc cũng thành không),
QNB chú: Độc giả lưu ý có thể là Đại Hao an theo Địa Chi nhé, xem lại phần an sao bên trên. Hạn “Lộc đảo” là Lộc bị Không Vong án ngữ.
Cự Trinh Không Kiếp Hỏa Linh vị
Hạn kỳ đáo xứ bất nghi lâm,
Tham Phá Thất Sát đa hình thất,
Thấu thử phương năng luận tử sinh,
(Cự Môn, Liêm Trinh, Không Kiếp, Hỏa Linh
Hạn kỳ đừng có nên lâm vào chỗ của chúng
Sát Phá Tham thì nhiều hình phạt mất mát
Hiểu thấu thì có thể luận về sinh tử),
Liêm Trinh Cự Môn Hỏa Linh tinh,
Hạn kỳ y ước mạc lai lâm,
Tứ chính tam phương nhị hạn kiến,
Long tuyền cấp cước bộ tu đình,
Cánh gia Thất Sát Phá Quân chiếu,
Lão nhân đồng tử tái vô sinh.
(Các sao Liêm Trinh, Cự Môn, Hỏa Linh
Hạn kỳ mà theo hẹn ước e ngại lâm vào
Tam phương tứ chính nhị hạn gặp phải
Rảo bước tới Long Tuyền mà dừng chân
Có thêm Thất Sát Phá Quân chiếu
Người già trẻ nhỏ sẽ không sống được).
Lại khán các sao ác sát, tam sát tam hợp xung chiếu, đồng thời gặp Thái Tuế, Bạch Hổ, Bệnh Phù, Tử Phù chiếu hạn, mười phần khó sống. Trong mệnh người ta năm có tai họa, tháng có tai họa, ngày có tai họa. Hoặc là đại tiểu nhị hạn gặp tổn thất tiền tài nhân khẩu, bản thân tuổi trẻ có tang vong, lại có tai nạn gấp đến. Bản Mệnh nếu có, tháng lại thêm sát nữa, cả 3 dữ kiện cùng một lý đoán, nếu như năm tháng ngày đều có, lại không gặp cát tinh, chỉ thủ hạn phạm ác sát tụ tập, xem đại hạn cùng với ngày tháng lâm vào cực kỳ khẩn cấp, cái đó nói lên “cát mà sao vẫn gặp hung, có họa” chính là như vậy. Người mà trong mệnh như Tứ Chính tụ tập, là vi tăng đạo chi nhân, nữ thì cũng làm ni cô, nếu có nhiều cát diệu thì lại phú quý, có quyền có chức, tài quan song tiến, Tứ Chính đó là Tý Ngọ Mão Dậu vậy, Dần Thân Tị Hợi, Thìn Tuất Sửu Mùi, như năm Dần tháng Thân ngày Tị giờ Hợi đúng là như vậy. Mệnh gặp Tứ Chính rất kỳ diệu, rất ưa có Khoa Quyền Lộc, thêm sát với Hóa Kị thì có thể biết được là tăng đạo nữ mệnh là ni cô quả phụ.
65. Luận âm dương nhị cung
Phàm an Mệnh tại cung âm hay dương, như người sinh năm dương mà an mệnh tại cung dương, Thân cũng tại cung dương thì cả đời tốt đẹp, nếu lạc cung âm dẫu có đẹp thì cũng tiến thoái lận đận mà thôi. Người sinh năm âm cũng luận tương tự như vậy. Thí dụ như người sinh năm Tý là dương, còn sinh năm Sửu là âm vậy.
66. Luận Bát Tọa
Bát Tọa chỉ luận cung Mệnh, không nói cung Thân là nhầm vậy. Người sinh giờ Mão Dậu có Thân Mệnh đối chiếu, tên gọi là Bát Tọa. (Các sao) tới chỗ Tài Quan Di Mệnh Thân lục vị hóa cát, đều ở chỗ miếu vượng thì không thể không phú quý. Nếu như lục vị đều ở chỗ hãm địa lại có Hóa Kị thì cuối cùng không được đẹp. Còn lại người không phải sinh vào giờ Mão Dậu thì Thân Mệnh có độ số khác, mặc dù không phải là Bát Tọa cũng khán xem Thân Mệnh cung cập bến ở cung nào trong 12 cung cát hung nặng nhẹ ra sao, thấy miếu vượng chi địa lại kiêm cả hóa cát thì đại tiểu hạn mà gặp thì tất nhiên sẽ phát đạt được hanh thông thụ hưởng, dẫu cho hạn chưa đến cũng là tốt lành vậy, không thể thấp kém được.
QNB chú: Thứ nhất sách này liệt kê thiếu và hơi khó hiểu một chút về “lục vị”, thực chất đó là nói đến 6 vị trí cung chức mà chúng ta thường gọi là “cường cung” là Mệnh Tài Quan Di Phúc Phối, những nơi mà Thân có thể cư vào.
Thứ hai, tại sao lại dùng chữ “Bát” (nghĩa là tám, thứ 8) kèm với chữ “Tọa” thì tôi không rõ. Nhưng chữ “Tọa” thì nghĩa cổ còn dùng để chỉ chức quan cao cấp, vị trí cao trong triều đình, cổ văn thường dùng cụm từ “tôn cư bát tọa” nghĩa là ngồi chỗ tôn quý cao cấp.
67. Luận Tam Thai
Tử Vi thủ Mệnh, trước đó một vị là Thượng Thai, xem cát hung tinh thủ chiếu đến chỗ Tử Vi là Trung Thai, xem miếu hãm với có cát hung tinh thủ chiếu như thế nào sau chỗ Tử Vi là Hạ Thai. Tam Thai đó chuyên khán Tử Vi ở tại chỗ miếu vượng, nơi trước sau ở chỗ miếu vượng, có hóa cát thì tất sẽ cát, hóa hung tất sẽ hung.
68. Luận Mệnh an Tứ Mộ cung
Người mà Mệnh an ở trong các cung Tứ Mộ, tuổi Dần Thân Tị Hợi thì vợ chồng đều tốt đẹp, thêm cát tinh thì phú quý, thêm hung tinh thì không đẹp. Gặp thêm Quyền Lộc thủ chiếu thì nam được quan chức còn nữ được phong tặng
69. Luận nam Hợi nữ Dần
Người nam mà tọa ở Hợi cung, người nữ mà tọa ở Dần cung, có Tử Vi thủ Mệnh, tuổi Nhâm Giáp thì được phú quý.
Nam tử cư yếu địa
Nữ nhân tại sơn đầu
Phú quý giai song hiển
Hương khuê túc ưu du.
(Người nam giữ nơi trọng yếu
Người nữ thuộc danh môn
Phú quý đều hiển hách
Hương khuê đủ an nhàn).
70. Luận Tham Trinh tị hợi
Tham Lang Liêm Trinh ở Tị Hợi thêm sát tinh với Hóa Kị thì chủ yểu thọ, nếu gặp nhiều cát tinh thì sau 30 tuổi có phát phúc nhưng mà đến cuối đời thì lại xấu.
Liêm Tham tị hợi cung,
Ngộ cát phúc doanh phong,
Ứng quá tam tuần hậu,
Tu phòng bất thiện chung.
(Liêm Tham tị hợi cung
Gặp cát tinh thì phúc tràn đầy
Ứng tới sau 30 tuổi
Cần đề phòng cuối đời không được yên lành).
71. Luận Thiên Cơ tị hợi
Thiên Cơ tị hợi cung,
Vi nhân tính giảo tinh,
Thương cổ giai hảo nguyện,
Cơ mưu tất ly tông,
Vi nhân hữu giảo hoạt,
Tự hảo tác kinh doanh,
Hảo ẩm đa cơ kiến,
Ly tông tất viễn thân.
(Thiên Cơ tị hợi cung
Người tinh khôn ranh mãnh
Theo buôn bán toại nguyện
Có cơ mưu và phải lìa nhà xa tổ
Là người có xảo quyệt
Tốt cho việc kinh doanh
Giỏi uống lại trông rộng
Lìa nhà xa tổ tông).
72. Luận nam nữ gian tà
Tham Trinh Phá Quân cư hãm địa,
Ngộ Kiếp Hóa Kị chung bất lợi,
Nam vi gian đạo nữ dâm xướng,
Gia sát chiếu mệnh vô miên thụy,
Tham Trinh tị hợi cư hãm địa,
Phá Quân mão dậu bất vi vinh,
Gia sát ngộ Kiếp vi gian đạo,
Thử hệ hình tà chi định luận.
(Tham Lang, Liêm Trinh, Phá Quân, cư nơi hãm địa
Gặp Địa Kiếp Hóa Kị cả đời bất lợi
Nam làm trộm cắp nữ dâm xướng
Thêm sát tinh chiếu mệnh thì “đi đêm” mà chẳng ngủ,
Tham Lang Liêm Trinh Tị Hợi cung hãm địa
Phá Quân ở Mão Dậu chẳng được tươi tốt
Thêm sát tinh gặp Địa Kiếp là trộm cắp
Các bộ ấy luận định là thuộc dạng gian tà).
73. Phép luận đoán Đại Tiểu hạn Thái Tuế nhập 12 cung
Một. Mệnh cung
Đại hạn độc thủ tiểu nhi sinh hạ gặp cát tinh thì dễ nuôi, thêm sát tinh thì có lo ngại.
Tiểu hạn ngộ cát tinh thì phát phúc tinh thần, thêm sát tinh thì khốn đốn, trẻ nhỏ có tai nạn.
Thái Tuế độc thủ có cát tinh thì phát phúc, thêm sát tinh tụ tập thì sinh tai nạn hối lận, tiểu nhi có tai nạn.
Đại Tiểu hạn gặp nhiều cát tinh thì phát phúc, tiểu nhi thì giảm đi một nửa, có thêm sát tinh thì có lo ngại tai ương.
Tiểu hạn gặp Thái Tuế thì ít nhiều có tai nạn, thêm sát tinh thì nhiều tai nạn khó thoát.
Đại hạn gặp Thái Tuế có cát tú thì tiểu nhi bình phúc, thêm sát tinh thì tai nạn hối lận.
Nhị hạn Thái Tuế gặp cát tinh cũng thế, tiểu nhi dễ nuôi, thêm sát tinh tụ tập thì có lo ngại.
Hai. Huynh Đệ
Thái Tuế độc thủ có cát tinh nhiều thì (anh em) có sự tương sinh tương trợ, thêm sát tinh thì (anh em) tương khắc kém hòa thuận, trong đó nô bộc buồn bực trong lòng.
Tiểu hạn độc thủ gặp cát tinh thì (anh em) tương sinh phát phúc, thêm sát thì kém hòa thuận, trong đó người dưới não lòng.
Thái Tuế độc thủ gặp cát tinh, trong đó anh em có sự trợ lực, thêm sát tinh thì người dưới não lòng, người trên ít hòa thuận.
Đại tiểu hạn gặp cát tnh thì (anh em) tương phù tương trợ đắc lực, thêm sát tinh tụ tập thì gặp mặt là khắc, tai nạn, hối lận, não lòng.
Đại hạn gặp Thái Tuế phùng cát tinh thì tương phù tương trợ đắc lực, thêm sát tinh thì xảy ra hình thương tai nạn, khiếm hòa, não lòng.
Tiểu hạn Thái Tuế gặp có cát tinh thì có sự chiêu nạp thêm đệ muội (em dâu), thêm sát tinh thì nào lòng, đề phòng tương khắc.
Nhị hạn Thái Tuế cùng gặp có cát tinh thì tương sinh, thêm sát tinh tụ tập thì xảy ra hình thương khiến hòa, tai khắc hối lận.
Ba. Phu Thê
Đại hạn độc thủ gặp cát tinh thì vợ chồng 10 năm được cát lợi thịnh vượng, thêm sát tinh thì có sự hình thương.
Tiểu hạn gặp cát tinh thì hôn sự chủ vui mừng, thêm sát tinh tinh thì lưu niên gặp hung có hối lận.
Thái Tuế ngộ cát tinh thì vợ chồng vui vẻ, có sát tinh tụ tập thì nội ngoại không no đủ yên ấm.
Đại tiểu hạn cùng gặp có cát tinh thì có hôn sự vui vẻ người tăng tài vượng, thêm sát tinh thì nội ngoại khiếm khuyết, vợ khắc.
Thái Tuế có cát tinh vượng, thê thiếp tài lộc đều tốt đẹp vui mừng, có sát tinh thì đáng ngại về thê thiếp.
Bốn. Tử Tức
Đại hạn gặp cát tinh chủ mười năm vượng tử phát phúc, thêm sát tinh thì khắc con mà chẳng được vượng.
Tiểu hạn gặp cát tinh thì lưu niên vượng tử tức, thêm sát tinh tụ tập thì con có có tai nạn hối lận.
Thái Tuế gặp cát tinh thì con cái tài lộc thịnh vượng, thêm sát tinh thì chủ hại con và có tai hối hình thương.
Nhị hạn cùng gặp có cát tinh thì tài lộc con cái được vượng, có sát tụ tập thì chủ ưu phiền tai nạn cho con cái.
Đại hạn gặp cát tinh Thái Tuế gặp cát tinh thì hỉ khí rất mạnh, thêm sát thì con cái có hối lận.
Tiểu hạn Thái Tuế gặp có cát tinh thì phát tài và con cái hưng vượng, thêm sát tinh thì tai nạn hối lận.
Năm. Tài Bạch
Đại hạn gặp cát tinh phát tài, ngược lại hành vận gặp ác sát thì mười năm lắm hối lận.
Tiểu hạn gặp cát tinh thì năm đó đi xa phát tài.
Nhị hạn gặp Thái Tuế có cát tinh, phát tài rầm rĩ, thêm sát tinh thì phá ngang mà tổn thất tài sản, có quan tụng thị phi.
Thái Tuế có cát tinh, chăm chỉ thì phát tài, không có cát tinh mà lắm sát tinh thì thì phá ngang.
Sáu. Tật Ách
Đại hạn có cát tinh thì ít tai nạn, thêm sát tinh nhiều thì chiêu phiền não, có tai nạn tật ách.
Tiểu hạn có cát tih thì ít tai nạn, được bình hòa, thêm sát tinh thì lắm tai nạn.
Thái Tuế có cát tinh thì bình hòa, thêm sát tinh tụ tập thì sinh ra tai nạn hối lận.
Nhị hạn Thái Tuế mà có cát tinh thì bình hòa yên ổn, thêm sát tinh tấu hợp thì tai nạn hối lận suốt một năm, Tiểu hạn cũng như thế.
Bảy. Thiên Di
Đại hạn cát nhiều thì mười năm cát lợi, có sát thì cay đắng.
Tiểu hạn gặp cát thì tác sự tùy tâm, hợp với xuất ngoại. Thêm sát tinh thì hối lận, hung hiểm bất lợi.
Thái Tuế có cát tinh gặp quý nhân tương sinh tương trợ, có sát tinh tụ tập thì chiêu chuốc khẩu thiệt.
Tiểu hạn có cát tinh thì phát phúc, có sát tinh tụ tập thì thì một năm lao lực.
Nhị hạn gặp Thái Tuế có cát tình bận bịu trong cát lợi, có sát tụ tập thì chiêu hung hiểm tai nạn.
Tám. Nô Bộc
Đại hạn có cát tinh thì 10 năm giảm tai cho những kẻ giúp mình, thêm ác sát thì nô bộc gặp hung ác.
Tiểu hạn một năm có sát tinh thì chiêu chuốc thị phi trong đó tổn người thiếu nhân lực.
Đại hạn gặp Thái Tuế có cát tinh nhiều thì xứng ý toại lòng, không có cát tinh thì kẻ dưới chiêu oán.
Thái Tuế có cát thì được toại tâm, thêm sát tinh thì chiêu thị phi trong đó thiếu nhân lực.
Nhị hạn gặp Thái Tuế có cát tinh thì bình hòa an ổn, có sat hung thì có hối lận.
Chín. Quan Lộc
Đại hạn có nhiều cát tinh và Quyền Lộc thì phát đạt hanh thông, gặp sát tinh thì bất cát.
Tiểu hạn có cát thì tài quan song mỹ, có sát tinh tụ tập thì không được an ninh và chiêu thị phi.
Thái Tuế có cát tinh tụ hội thì phát phúc, thêm sát tinh thì có hối lận kinh sợ.
Đại Tiểu hạn có nhiều cát tinh và Quyền Lộc thì thăng tiến, có thêm sát tinh thì trung bình lại còn chiêu chuốc hung hiểm tai họa hối lận.
Nhị hạn gặp Thái Tuế mà vận hành ngược chiều nhau thì cát, thuận vận mà vô cát tinh thì tai ương.
Mười. Điền Trạch
Đại hạn thuận hành vận có cát tinh thì phát phúc, thấy sát tinh thì thành bại đa đoan, kém an ổn.
Tiểu hạn có cát thì bình hòa an ổn, thêm sát tinh thì tác sự bất thành lại có tai hối.
Nhị hạn có nhiều cát thì người trong nhà lẫn tiền tài đều được tốt đẹp, thêm sát tinh tụ tập thì não lòng,
Đại hạn gặp Thái Tuế thì năm đó không xấu.
Tiểu hạn hạn gặp Thái Tuế mà có nhiều cát thì bình hòa an ổn, thêm sát thì không được như ý, lao tâm tổn lực.
Nhị hạn gặp Thái Tuế thuận hành vận mà có nhiều cát tinh thì phát phúc, có sát tinh thì không được toại ý.
Mười một. Phúc Đức
Đại hạn thuận hành có nhiều cát tinh thì được tương phù tương trợ mà phát phúc, thêm sát tinh thì có hối lận.
Tiểu hạn có cát tinh thì tác sự được xứng ý toại lòng.
Thái Tuế có cát thì bình hòa an ổn, không có cát tinh vẫn được an ổn.
Đại hạn gặp cát thuận hành vận có nhiều điều tốt đẹp về nhân lực tiền tài, thêm sát tinh thì có thành bại đa đoan.
Nhị hạn thuận vận có cát tinh thì phát phúc, thêm sát tinh thì lao lực kém an ổn.
Nhị hạn ngộ Thái Tuế lại thuận vận có cát thì phát phúc, thêm sát tinh thì phá tài.
Mười hai. Phụ Mẫu
Đại hạn nghịch hành vận có cát tinh thì phụ mẫu an ninh ít tai nạn, thuận hành vận có cát tinh thì phụ mẫu không có tai nạn.
Tiểu hạn có cát tinh thì bình hòa an ổn, thêm sát tinh thì có lo lắng.
74. Luận về phân chia Nam Bắc
Hai loại tinh đẩu có sự phân chia về nơi cư trú theo các cung phận Nam Bắc, từ Mão tới Dậu là Nam, từ Tuất tới Dần là Bắc, người Nam gặp Nam, người bắc gặp bắc, cổ thư nói: Các tinh thần Nam đẩu mà người Nam gặp được hoặc an Mệnh ở phương Nam, các tinh thần Bắc đẩu mà người Bắc gặp được hoặc an Mệnh ở phương Bắc, như thế thì mười người là có tới chín người cường thịnh.
75. Luận phân chia Nam Bắc cho tinh đẩu
Tử Vi vi tôn đệ nhất tinh,
Âm dương Nhật Nguyệt tối vi tôn,
Văn Xương kim tinh Tả Hữu tể,
Kiếp sát Không vong hao sứ thần,
Lộc chủ phúc đức quyền tinh sát,
Khoa văn khôi việt quý nhân tinh,
Kị thị đa quản kiêm thái tuế,
Nhiên hậu phương luận nam bắc phân,
Bắc đẩu vũ liêm tham cự phá,
Lộc tồn văn khúc dương đà tinh,
Nam đẩu cơ đồng lương tướng phủ,
Hỏa linh thất sát thủ nam cung.
(Tử Vi tôn quý đệ nhất tinh,
Âm dương Nhật Nguyệt cũng tôn quý
Văn Xương kim tinh dẫn đầu Tả Hữu
Kiếp Sát Không Vong là thần sứ giả hao tổn
Lộc chủ phúc đức, Quyền nắm quyền sinh sát
Khoa chủ văn, Khôi Việt chủ quý nhân
Kị thì quả lắm chuyện cùng với Thái Tuế
Sau đó luận tới Nam Bắc phận
Bắc đẩu Vũ, Liêm, Tham, Cự, Phá
Lộc Tồn, Văn Khúc, với Kình, Đà
Nam đẩu Cơ, Đồng, Lương, Tướng, Phủ
Hỏa, Linh, Thất Sát, giữ Nam cung).
76. Thái vi diệu luận
Đẩu Số chí huyền chí vi, lý chỉ nan minh,
tuy thiết vấn vu các thiên chi trung, do hữu ngôn nhi vị tận,
chí như tinh chi phân dã, họa phúc thiển thâm, thọ yểu hiền ngu, các hữu sở ti.
(Đẩu số vô cùng huyền ảo thâm thúy, lý lẽ và ý nghĩa khó mà lường hết được.
Tuy rằng có đặt ra các vấn đáp trong mỗi chương, nhưng do ngôn ngữ có giới hạn nên không thể nói hết thành lời được.
Ngay như phân dã (địa phận) của các sao, họa phúc nông sâu, thọ yểu hiền ngu, đều theo ti sở quản lý của chúng.
Kỳ tinh phân bố nhất thập nhị cung,
Số định hồ tam thập lục vị,
nhập miếu vi kỳ, thất độ vi hư,
đại để dĩ thân mệnh vi phúc đức chi bản,
gia dĩ căn nguyên vi cùng thông chi tư.
(Sao phân bố trên mười hai cung của nó,
Số định ở ba mươi sáu vị,
nhập miếu thì hay còn thất độ (lạc hãm) thì hỏng.
Đại để lấy Thân Mệnh làm gốc của cái Phúc cái Đức,
thêm căn nguyên là cái ý tứ của sự biến đổi cùng – thông mà xem xét).
Tinh hữu đồng triền, số hữu phân định,
tu minh kỳ sinh khắc chi yếu, tất tường hồ đắc viên thất độ chi cơ.
(Sao có thể cùng chỗ, nhưng Số có sự phân định (khác biệt),
Nên hiểu sinh khắc của chúng là trọng yếu, tất sẽ tỏ tường về then chốt của miếu đắc hay thất hãm).
Quan hồ thái vi xá triền, ti thiên cơ chi quần tượng, khiên liệt tú nhi thành viên,
Thổ tinh cức cư kỳ viên, bất khả di động, Kim tinh chuyên ti tài khố, tối phạ không vong.
(Xem triền xá (nơi cư ngụ của sao trên vòng xoay) của Thái Vi, tượng chủ của ti then máy trời, khiến chư tinh liệt tú mà tạo thành tinh viên,
Thổ tinh tạo thành cung viên, không thể di động, còn Kim tinh chuyên ti tài khố thì rất sợ Không Vong.
Đế quân diêu tắc liệt túc bôn trì,
Tham thủ không nhi tài nguyên thất chủ.
Các ti kỳ chức, bất khả tham soa.
(Đế tinh lay động thì chư tinh liệt tú ắt sẽ xáo động gấp rút.
Tham thủ Không thì tài nguyên chẳng thể nào mà tụ được.
Chức vụ của các ti (có sự phân biệt), không thể can dự (chồng chéo) vào được.
Kỳ lệ viết:
(Quy ước rằng)
Tử Vi Thiên Phủ toàn ỷ Phụ Bật chi công,
Thất Sát Phá Quân chuyên ỷ Dương Linh chi ngược.
(Tử Phủ muốn thành công phải hoàn toàn nhờ vào trợ giúp của phù tá tinh Tả Phụ, Hữu Bật.
Sát Phá thường nương theo Kình (đà) Linh (hỏa) mà làm điều mãnh liệt, hung tàn).
Nhật Nguyệt tối hiềm phản bối,
Lộc Mã tối hỉ giao trì.
(Nhật Nguyệt rất ghét lạc hãm,
Lộc Mã rất mừng gặp gỡ kết giao với nhau)
Lộc phùng xung phá, cát xứ tàng hung.
Mã ngộ Không Vong, chung thân bôn tẩu.
(Lộc gặp hung sát tinh xung chiếu thì như ở chỗ cát mà lại có tàng ẩn sẵn cái hung.
Mã gặp Không Vong thì suốt đời bôn ba vất vả).
Sinh phùng bại địa, phát dã hư hoa.
Tuyệt xứ phùng sinh, sinh hoa bất bại
(Mệnh cư chỗ bại địa là như hoa sớm nở tối tàn.
Mệnh ở chỗ tuyệt địa nhưng được tương sinh thì không thể suy tàn sớm được).
Tinh lâm miếu vượng, tái quan sinh khắc chi cơ.
Mệnh tọa cường cung, tế sát chế hóa chi lý.
(Sao đã lâm vào nơi miếu vượng, lại cần xét xem then chốt của sinh khắc.
(Mệnh đóng vào cường cung, cần quan sát kỹ cái lý chế hóa)
Thảng cư Không Vong, đắc thất tối vi yếu khẩn.
Nhược phùng bại địa, phù trì đại hữu kì công.
(Giả sử cư chỗ Không Vong thì việc xét đắc hãm lại rất quan trọng.
Nếu gặp ở nơi bại địa thì các yếu tố trợ giúp sẽ có vai trò vô cùng quan trọng).
Chư tinh cát, phùng hung dã cát.
(Các sao tốt lành mà gặp hung thì mất tốt lành)
Chư tinh hung, phùng hung dã hung.
(Các sao hung mà gặp Hung thì mất tính hung??!!!
QNB chú: dịch nguyên văn. Theo tôi, câu này có sự thất bản, viết nhầm chữ Cát với Hung, vì theo cái lý sao Hung mà gặp Cát tinh hóa giải thì mới có thể làm giảm, làm mất đi tính hung).
Phụ Bật giáp Đế vi thượng phẩm,
(Phụ Bật giáp Tử Vi là thượng cách, rất đẹp)
Đào Hoa phạm Chủ vi chí dâm.
(Tham Lang – chánh đào hoa – xâm phạm chỗ Tử Vi ở Mão Dậu, lại gặp sát ám dâm tinh nữa thì sẽ rất dâm).
Quân thần khánh hội, tài học kinh bang
(Có cách Tử Vi hội họp với các cát tinh phù tá thì là kẻ tài giỏi kinh bang tế thế).
Lộc Văn củng mệnh, phú nhi thả quý
(Được cách Lộc tinh và Văn tinh củng chiếu Mệnh, là vừa phú vừa quý).
Nhật Nguyệt giáp tài, bất quyền tắc phú
(Có cách Nhật Nguyệt giáp Tài, thì chẳng quyền cao thì cũng giàu to).
Quý nhập Quý hương phùng chi phú quý
(Quý tinh vào chỗ tôn quý mà gặp được thì sẽ được phú quý).
Tài cư Tài vị ngộ giả phú xa
(Tài tinh cư vào Điền Tài cung mà gặp được thì giàu có).
Thái Dương cư Ngọ, vị chi “Nhật lệ trung thiên”, hữu chuyên quyền chi quý, địch quốc chi phú.
(Thái Dương cư Ngọ, chính là Mặt Trời sáng rực rỡ giữa bầu trời, người quyền quý cực cao, giàu có nhất nhì trong một nước).
Thái Âm cư Tý, hiệu viết “Thủy trừng quế ngạc”, đắc thanh yếu chi chức, trung gián chi tài.
(Thái Âm cư Tý, là Nước trong in bóng cành Quế, thường được giữ chức vụ quan trọng, lại có tài can gián vua).
Tử Vi Phụ Bật đồng viên, nhất hô bách nặc, cư thượng phẩm.
(Tử Vi đồng cung với Phụ Bật thì hô một tiếng có trăm người dạ ran, làm quan cao tột bực).
Văn Khúc Phá Quân Dần Mão tụ thủy triều tông.
(Khúc gặp Phá Quân ở Dần Mão tụ thủy chảy về nguồn).
Nhật Nguyệt thủ bất như chiếu hợp,
(Đối với cả 2 sao Nhật Nguyệt thì chiếu hợp giáp đẹp hơn khi chúng đồng cung tọa thủ).
Ấm Phúc tụ bất phạ hung nguy.
(Lương Đồng gặp thêm các cát tinh thì không sợ hung nguy).
Tham cư Hợi Tý, danh vi “phạm thủy đào hoa”.
(Tham Lang – chánh Đào Hoa tinh – khi ở Tý Hợi là thủy cung thì gọi là “Đào hoa lênh đênh trên sóng nước”).
Hình ngộ Tham Lang, hiệu viết “phong lưu thái trượng”.
(Hình gặp Tham ở Dần Thân thì được gọi theo biệt hiệu là “khoe mẽ phong lưu” – cách này dễ bị ăn đòn vì thói phong lưu trăng gió).
Lộc cư Nô Bộc, túng hữu quan dã bôn trì
(Lộc cư Nô thì tuy làm quan vẫn vất vả hoặc làm công việc có tính chất chạy đôn đáo ngược xuôi. Chủ yếu là do Kình Đà xung chiếu vào Mệnh),
Đế ngộ hung đồ, tuy hoạch cát nhi vô đạo.
(Tử Vi gặp Kiếp Không, sát tinh, thì tuy vẫn có phần thành công nhưng là kẻ vô đạo).
Đế tọa kim xa, tắc viết kim dư phù giá,
(Tử Vi cư Ngọ có Tả Hữu chầu gặp các cát tinh là cách “Kim dư phù giá” – vua ngồi xe vàng, quần thần phù tá xa giá)
Phúc an văn diệu, vị chi ngọc tụ thiên hương.
(Phúc cung an Khôi Việt Xương Khúc là coi như ngọc sáng, truyền đời nắm quyền cao).
Thái Dương hội Văn Xương vu Quan Lộc, ngọc điện truyền lô
(Nhật hội với Văn Xương ở Quan Lộc cung thì được loa truyền gọi lên điện ngọc).
Thái Âm hội Văn Khúc vu Thê cung, thiềm cung chiết quế.
(Thái Âm hội Văn Khúc ở cung Thê thì lấy vợ con gái nhà danh gia, lại thường có tài văn chương, thi cử đỗ đạt).
Mệnh tọa Sinh hương, thọ khảo vĩnh như Bành Tổ.
(Mệnh ở chỗ Tràng Sinh thì thọ như Bành Tổ).
Sát cư Tuyệt địa, thiên niên yểu tự Nhan Hồi.
(Sát ở Tuyệt đồng cung, mệnh ở đó thì ngàn năm bạc mệnh, yểu như Nhan Hồi)
Lộc Tồn thủ ư Điền Tài, đôi kim tích ngọc
(Lộc Tồn cư Điền Trạch, Tài Bạch thì giàu có vô cùng).
Tài Ấm tọa ư Thiên Di, cự thương cao cổ
(Tài tinh, Ấm tinh ở Thiên Di thì đi buôn phát tài lớn).
Thiện Phúc cư Không vị, Thiên Trúc sinh nhai.
(Thiên Cơ, Thiên Đồng đóng ở chỗ Không Vong thì dễ đi tu)
Phụ Bật đơn thủ Mệnh cung, ly tông thứ xuất.
(Tả Phụ hoặc Hữu Bật độc thủ ở mệnh là rời bỏ quê quán tổ tông, nếu là chi thứ trong Họ mà ko phải dòng trưởng thì thậm chí còn có thể đổi họ, hoặc là con của vợ lẽ sinh ra)
.Kị ám đồng tại Mệnh cung Tật Ách trầm khốn uông doanh,
(Hóa Kị với ám tinh cùng cư Mệnh Thân Tật thì mê muội, nghèo khổ, yếu ớt càng nhiều),
Hung tinh hội ư Thiên Di Tướng Mạo hình thương sản thất.
(Hung tinh hội vào Phụ Mẫu (Tướng Mạo cung), Thiên Di thì hình khắc, dễ bị hình thương,dễ mất sản nghiệp).
Hao cư Lộc vị, duyên đồ khất cầu.
(Hao ở vào chỗ với Lộc vị là số ăn m*y).
Tham hội vượng cung, chung thân thử thiết.
(Tham Lang cư Tý Ngọ Mão Dậu, lại trúng chỗ Vượng của Tam Hợp tuổi, là số trộm cắp).
Thất Sát Liêm Trinh đồng vị thượng lộ mai thi
(Thất Sát và Liêm Trinh đồng cung thì dễ chôn thây trên đường)
Phá Quân Ám diệu nhất cung thủy trung tác trủng.
(Phá Quân và Ám diệu đồng cung thì dễ chết chìm trong nước).
Dương Nhận hội ư Mệnh cung ngộ Bạch Hổ định tu hình sát.
(Kình Dương thủ Mệnh gặp Bạch Hổ thì định rằng có sự hình sát).
Thất Sát phùng ư Thân Mệnh ngộ lưu sát tất chủ tử vong.
(Thất Sát gặp ở Thân Mệnh hạn có lưu sát tinh thì chủ về tử vong).
Hình Sát phát ư cát diệu,
(Hình Sát mà thấy các cát tinh thì phát)
Lưu Sát phạ phùng Phá Quân.
(Lưu niên sát tinh e ngại gặp Phá Quân vì dễ tai họa ập đến).
Dương Linh bằng Thái Tuế dĩ dẫn hành,
Bệnh Phù Quan Phù giai tác họa.
(Kình Linh nhờ vào Thái Tuế mà dẫn động lưu hành,
Bệnh Phù và Quan Phù đều là tác nhân gây họa).
Tấu Thư Bác Sĩ dữ lưu Lộc, tận tác cát tường.
(Tấu Thư Bác Sĩ cùng Lưu Lộc Tồn đều tạo ra sự hết sức tốt lành).
Lực Sĩ Tướng Quân đồng Thanh Long, hiển kỳ quyền thế.
(Lực Sĩ, Tướng Quân và Thanh Long là hiển lộ về sự quyền lực, quyền thế).
Đồng tử hạn như thủy thượng chi phao,
Lão nhân hạn tự phong trung chi chúc,
(Hạn của trẻ nít như là bọt bèo trên mặt nước
Hạn người già tựa đốm lửa giữa gió lộng).
Nhân sinh vinh nhục hạn nguyên bộ hữu phù trầm,
Xử thế cô bần số trung phùng hồ bác tạp,
Học giả chí thử khả thái huyền vi.
(Hạn vinh nhục của đời người, nguyên trong lúc tốt cũng có một vài khi xấu và ngược lại,
Vị thế cô bần của người ta trong xã hội cũng vì số mệnh toàn tạp mà không thành thuần cách,
Học giả nắm được bấy nhiêu cũng gọi là nắm được lẽ huyền vi rồi).
QNB chú: bài này chính là bài Thái Vi Phú nhưng mà thiếu một số câu và có một số chỗ khác biệt chút xíu so với trong sách TVĐS Toàn Thư. Độc giả lưu ý
– trichs Quách Ngọc Bội –

Leave a comment

0.0/5

Địa chỉ

27 Trường Chinh, Tân Thới Nhất,

Quận 12, HCM

0989224080

Newsletter

Tử Vi Sài Gòn © 2024. All Rights Reserved.

Cart0
Cart0
Cart0
Go to Top