Skip to content Skip to sidebar Skip to footer

Thập bát phi tinh phần 5 – cùng học tử vi

Cùng học tử vi tại hocvienlyso.org
Cự Lương tương hội Liêm Trinh tinh,
Hợp Lộc uyên ương nhất thế vinh.
(Cự Lương hội với Liêm Trinh lại có song Lộc hợp chiếu thì một đời được vinh hiển).
[Bốn sao Cự Lương Liêm Tham ở Thân Mệnh mà tam hợp gặp được các cát tinh, lại miếu địa, lại vừa có thêm Lộc Tồn Hóa Lộc ở Phu Thê cung, hoặc có Lộc tới hợp chiếu thì cũng chủ phú quý].
Vũ Khúc nhàn cung đa thủ nghệ,
Tham Lang hãm địa tác đồ nhân.
(Vũ Khúc ở nhàn cung thì đa phần là làm nghề thủ công,
Tham Lang ở chỗ hãm địa thì làm anh đồ tể chuyên giết mổ gia súc).
[Vũ Khúc ở Tị Hợi cung (là hãm địa) mà thủ Mệnh có thêm sát tinh tụ họp thì chỉ làm nghề thủ công mà yên thân.
Tham Lang ở Tị Hợi cung (là hãm địa) mà thủ Mệnh, có thêm sát tinh tụ họp thì làm anh đồ tể chuyên giết mổ lợn bò trâu ngựa. HoặcLiêm Tham ở Tị Hợi mà thêm sát tinh, Hóa Kị thì cũng dễ chết yểu].
Thiên Lộc triều viên thân vinh quý hiển,
Khôi tinh lâm mệnh vị liệt tam thai.
(Lộc Tồn mà chầu cung Mệnh thì tấm thân được vinh quang quý hiển,
Khôi Việt đóng vào Mệnh vị thì cũng được tước vị cỡ ngôi Tam Công).
[Như người sinh năm Giáp mà an Mệnh tại cung Dần, Lộc Tồn đến Dần thủ mệnh năm Giáp cũng khiến cho thành “Lộc triều viên” cách, lại như tuổi Canh an Mệnh tại Thân, tuổi Ất an Mệnh tại Mão, tuổi Tân an Mệnh tại Dậu, bốn vị trí Lộc thủ Mệnh cung đó thì đoán y như vậy. Thêm sát tinh, Hóa Kị thì bình thường. Ngoài ra, người sinh các năm Bính Mậu Đinh Kỷ Nhâm Quý tại 4 cung Tị Hợi Tý Ngọ không được coi là “Lộc triều viên” vậy.
(QNB chú: Nguyên chữ “triều” này vốn được hiểu là triều kiến, chầu, ngoảnh mặt về, hướng về,… chữ “viên” được dùng chỉ Mệnh Viên. Ở đây lại nói về Lộc Tồn thủ mệnh, thì cũng kể là lạ vậy. Xin độc giả lưu ý).
Như an Mệnh tại cung Ngọ có Tử Vi tọa thủ, gặp Văn Xương Khôi Việt đồng cung thì người tuổi Tân là kỳ cách.
(QNB chú: đúng là tuổi Tân, còn trong TVĐS Toàn Thư chép nhầm là tuổi Nhâm).
Vũ Khúc cư Càn Tuất Hợi thượng, tối phạ Thái Âm phùng Tham Lang.
(Vũ Khúc ở Càn cung Tuất Hợi, rất sợ Thái Âm gặp Tham Lang).
[Vũ Khúc tại Tuất Hợi thủ Mệnh, tam phương thấy Thái Âm Tham Lang Hóa Kị thêm các sát tinh thì không đẹp vậy, đoán định chủ thiếu niên bất lợi. (QNB chú: Vũ Khúc với Thái Âm nhị hợp chứ đâu có thể gặp ở tam phương mà nói vậy. Và Âm với Tham kẻ trước người sau. Độc giả lưu ý vậy). Hoặc như có Tham Hỏa xung thì chủ quý, người tuổi Giáp Kỷ là hợp cách].
Hóa Lộc hoàn vi hảo, hưu hướng Mộ trung tàng.
(Hóa Lộc chiếu về mệnh là hay, đừng nằm ở trong Mộ cung).
[Như Vũ Khúc Thái Âm Tham Lang hóa Lộc thủ chiếu Mệnh cung, thêm các cát diệu cũng chủ phú quý, nhưng ở Thìn Tuất Sửu Mùi cung thì dù Hóa cát cũng vô dụng. Thìn Tuất Sửu Mùi là thần của tứ Mộ].
Tý Ngọ Cự Môn thạch trung ẩn ngọc,
Minh Lộc ám Lộc cẩm thượng thiêm hoa.
(Cự Môn ở Tý Ngọ là như ngọc ẩn ở trong đá,
Minh Lộc ám Lộc là như áo gấm được thêm hoa).
[An Mệnh ở hai cung Tý Ngọ mà gặp Cự Môn tọa thủ, thêm đắc ở Dần Tuất (chiếu Ngọ) Thân Thìn (chiếu Tý) có Khoa Quyền hợp chiếu thì tất sẽ phú quý. Bí văn nói “Cự Môn Tý Ngọ Khoa Quyền chiếu, quan tư khanh hiển chí tam công” (Cự Môn ở Tý Ngọ có Khoa Quyền chiếu thì đường quan lộ được hanh thông hiển hách, lên tới tước tam công).
Như người tuổi Giáp mà lập Mệnh tại Hợi cung đắc Hóa Lộc tọa thủ, lại đắc Lộc Tồn ở Dần hợp đến, bởi Dần với Hợi là các cung vị hợp với nhau vậy, cái cách này và “Khoa minh Lộc ám” cũng đoán tương tự vậy].
Tử Vi Thìn Tuất ngộ Phá Quân, phú nhi bất quý hữu hư danh.
(Tử Vi ở Thìn Tuất gặp Phá Quân, giàu mà chẳng quý chỉ có hư danh).
[An Mệnh tại nhị cung Thìn Tuất, gặp Tử Vi Phá Quân thực là hãm địa, tất nhiên chẳng quý, dù có phát tài nhưng cũng ko thực sự là mệnh được hưởng thụ].
Xương Khúc Phá Quân phùng hình khắc đa lao lục,
Tham Vũ Mộ trung cư tam thập tài phát phúc.
(Xương Khúc với Phá Quân gặp nhau, thì có sự hình khắc, cuộc đời nhiều lận đận,
Tham Vũ cư ở trong cung tứ Mộ, sau ba mươi tuổi thì phát tài phát phúc).
[Như ở Mão Dậu Thìn Tuất có Phá Quân thủ Mệnh, dẫu có được Xương Khúc cũng không toàn cát, thêm sát tinh, Hóa Kị thì càng không được đủ quý vậy.
Như ở Thìn Tuất Sửu Mùi mà có Vũ Tham thủ Mệnh, định rằng chủ bất lợi lúc thiếu niên, thêm sát tinh Hóa Kị thì yểu thọ, sau ba mươi tuổi thì phát tài phát phúc. Bí văn nói “Tham Vũ bất phát thiếu niên nhân, vận quá tam thập phương diên thọ”].
Thiên Đồng Tuất cung vi phản bối, Đinh nhân hóa cát chủ đại quý.
Cự Môn Thìn Tuất vi hãm địa, Tân nhân hóa cát Lộc tranh vanh.
(Thiên Đồng ở Tuất là hãm địa, nhưng với người tuổi Đinh thì Thiên Đồng hóa Quyền, gọi là hóa cát, như thế lại thành ra chủ đại quý.
Cự Môn ở Thìn Tuất là hãm địa, nhưng với người tuổi Tân thì Cự Môn hóa Lộc, gọi là hóa cát, như thế lại thành ra được tài lộc cao chót vót).
[Thiên Đồng ở cung Tuất vốn là chỗ hãm, nhưng người tuổi Đinh thì (ở bản cung Đồng hóa Quyền) ở Ngọ có Lộc Tồn, ở Dần có Cơ Âm hóa Lộc hóa Khoa, ở Thìn có Cự Môn hóa Kị (đắc Mộ cung), cùng xung và củng chiếu thì định là chủ đại quý, Thiên Tướng cũng như vậy (QNB chú: không nói rõ trường hợp Thiên Tướng thì tuổi nào), nếu thêm sát tinh thì dễ theo tăng đạo, định là hạ cục.
Cự Môn tọa Mệnh tại Thìn Tuất cung vốn là hãm địa, nhưng người tuổi Tân thì Cự Môn hóa Lộc, lại được ám hợp Lộc Tồn ở Dậu (khi Mệnh ở Thìn), được Lộc Tồn ở Dậu giáp Mệnh (khi Mệnh ở Tuất), tất sẽ chủ phú quý, nếu thêm sát tinh thì không phải như vậy].
Cơ Lương Dậu thượng hóa cát giả, túng ngộ tài quan dã bất vinh.
(Thiên Cơ, Thiên Lương khi ở trên cung Dậu dù có gặp được hóa cát ở Tài Quan thì cũng không vinh hiển về công danh quan chức được ?!!!).
[Ở cung Dậu mà an Mệnh có Cơ Lương thực là hãm địa, dẫu có gặp cát cũng vô lực vậy. Cự Môn cũng như thế.
QNB chú: Câu phú này chắc là có sự nhầm lẫn trong lúc sao chép, vì ở Dậu thì chỉ có thể có Thái Dương và Thiên Lương đồng cung và cùng hãm mà thôi, không thể là Cơ Lương được].
Nhật Nguyệt tối hiềm phản bối nãi vi thất huy,
Mệnh Thân định yếu tinh cầu khủng sai phân số.
(Nhật Nguyệt rất ngại quay lưng vào nhau vì như thế là mất ánh sáng, lạc hãm,
Phân định chỗ trọng yếu Mệnh Thân thì yêu cầu phải tinh tế, vì sợ có sai số).
[Thái Dương tại Thân Dậu Tuất Hợi Tý, Thái Âm tại Dần Mão Thìn Tị Ngọ, thì là Nhật Nguyệt không có ánh sáng, có quý gì đâu, nhưng mà có Nhật Nguyệt phản bối mà lại giàu có sang quý thì lại phải coi lại xem bản cung và tam hợp có cát hóa củng chiếu, không có sát tinh thì mới vậy, bởi thế Ngọc Thiềm tiên sinh thường viết “nghị luận trong Số rất tinh vi, phép đoán ở lòng người phải linh hoạt biến hóa”.
Gặp chỗ an cung Mệnh Thân thì trước tiên biện luận về giờ sinh, giờ đúng thì không thể không ứng, Thân Mệnh đã an định rồi thì sau đó xem bản cung Sinh Vượng Tử Tuyệt thế nào, rồi sau mới theo sao mà phán đoán].
Âm chất diên niên tăng bách phúc,
chí vu hãm địa bất t*o thương.
(Âm đức của tổ tông và số đã định trước là thọ là có thể khiến cho tăng bách phúc,
dẫu có đến chỗ hãm địa cũng không bị tổn thương).
[Câu đó nói về Thân Mệnh nhị tinh (QNB chú: có lẽ chữ “nhị tinh” là để làm rõ rằng muốn đề cập tới Sao chủ Mệnh và Sao chủ Thân, chứ không phải là cung Mệnh & cung Thân), nếu như nhược kém mà vẫn được phúc thọ cát khánh, đó là do ngầm định ấy là người có đức vậy. Thân Mệnh tuy nhược, cùng với hành hạn cũng nhược lại phản chuyển được phúc, đó tất là do tâm tốt lương thiện nên thắng được ngầm định (QNB chú: ý muốn nói đến “đức năng thắng số”)].
Mệnh thực vận kiên cảo điền đắc vũ
Mệnh suy hạn nhược nộn thảo thao sương,
(Mệnh có thực lực, vận lại vững chắc thì như ruộng lúa được mưa tưới tắm,
Mệnh mà suy, hạn lại nhược kém thì giống như cỏ non gặp phải sương dầm).
[Nếu như Mệnh tọa hãm địa, lại có bốn bề cát tinh củng chiếu cũng luận là phúc. Còn như Mệnh tọa hãm địa, vận gặp ác sát thì tất sẽ chủ tai họa hối hận.
Nếu Mệnh mà có thực lực (sinh vượng) mà vận lại kiên cố (sinh vượng, có cát củng chiếu) thì phúc của nó khỏi cần nói vậy].
Luận Mệnh tất suy tinh thiện ác,
Cự Phá Kình Dương tính tất cương.
(Luận mệnh tất phải suy sao thiện sao ác,
Cự Môn Phá Quân Kình Dương mà thủ mệnh thì tính tình tất sẽ cương cường, cứng rắn).
[Như 3 sao ấy mà thủ mệnh lại cư vào hãm địa, chẳng những tính cương cường như vậy mà còn định là chủ lời lẽ thị phi, thêm sát tinh thì sẽ bị hình thương, phá bại].
Phủ Tướng Đồng Lương tính tất hảo,
Hỏa Kiếp Không Tham tính bất thường.
(Thiên Phủ, Thiên Tướng, Thiên Đồng, Thiên Lương thì tính tình rất tốt,
Hỏa Tinh, Địa Kiếp, Địa Không, Tham Lang thì tính khí thất thường).
[Phủ Tướng Đồng Lương đều là sao thuộc Nam đẩu thuần dương trung chính, Thân Mệnh mà gặp thì tất sẽ có được tính trung thực hòa nhã, nếu như Tham Lang gặp được thì phú quý, nhưng có Không Kiếp lâm vào thì đoán là tính khí thất thường. (QNB chú: phần sách chú giải cho vế sau của câu phú hơi mơ hồ. Độc giả lưu ý)].
Xương Khúc Lộc Cơ thanh tú xảo,
Âm Dương Tả Hữu tối từ tường.
(Xương Khúc Lộc Cơ đều thanh tú và khéo kéo,
Nhật Nguyệt Tả Hữu thì đều nhân từ, ân cần).
[Xương Khúc Lộc Cơ mà không gặp thêm sát tinh, chủ nhân lỗi lạch anh hoa thông minh tuấn tú, cũng được hưởng phú quý.
Như Âm Dương Tả Hữu thủ mệnh mà không gặp thêm sát tinh thì chủ nhân tướng mạo thanh kỳ đôn hậu, độ lượng bao dung, luận là phú quý].
Vũ Phá Trinh Tham xung hợp khúc toàn cố quý,
Dương Đà Thất Sát tương tạp hỗ kiến tắc thương.
(Vũ Khúc Phá Quân Liêm Trinh Tham Lang xung hợp khiến được phú quý trọn vẹn lâu dài,
Kình Dương Đà La Thất Sát gặp tạp hỗ sát hung tinh thì tất sẽ bị thương tật).
[Thân Mệnh mà trong tam hợp gặp Vũ Phá Trinh Tham thủ chiếu, được thêm cát hóa thì tất sẽ phú quý vậy, cần gặp Tử Vi để thường hàng Thất Sát thành quyền, thường bảo ban được bọn Kình Đà hướng thiện, do đó Tử Vi cùng cư Mệnh là vốn đẹp đẽ, tại xung hợp cũng có thể được, nhưng Thất Sát Kình Dương Linh Tinh vẫn không phải cát diệu, cho nên đến già thì không được thiện, cuối cùng vẫn không được là mệnh toàn cát].
Tham Lang Liêm Trinh Phá Quân ác
Thất Sát Kình Dương Đà La hung.
(Tham Lang Liêm Trinh Phá Quân là tác tính ác cho người có nó,
Thất Sát Kình Dương Đà La thì tính tình cũng hung ác).
[Thân Mệnh tam hợp hoặc thủ chiếu mà thấy có sáu sao này, lại đồng thời có Hóa Kị mà lại không thấy cát hóa thì định là chủ phá bại, tà dâm hoặc tàn tật thương tích, chủ hình khắc. Như nhập miếu có hóa cát thì cũng cứ giống như trên mà đoán]
Hỏa Tinh Linh Tinh chuyên tác họa
Kiếp Không Thương Sứ họa trùng trùng.
(Hỏa Linh thường gây ra tai họa
Gặp Kiếp Không Thương Sứ thì hao tổn mất mát, tai họa trùng trùng).
[Đại tiểu nhị hạn mà gặp các sao ấy thì định là trong nhà có tai họa, hối tiếc đa đoan, như Thân Mệnh gặp được mà thêm cát tinh thì vô hại với Hỏa Linh, nhưng với Không Kiếp thì không vô hại].
Cự Môn Kị tinh giai bất cát,
Vận Thân Mệnh hạn kị tương phùng.
Canh kiêm Thái Tuế Quan Phù chí,
Quan phi khẩu thiệt quyết bất không.
Điếu Khách Tang Môn hựu tương ngộ,
Quản giáo tai bệnh lưỡng tương công.
(Cự Môn và hóa Kị thì đều chẳng đẹp chút nào,
Thân Mệnh và vận hạn rất e ngại gặp phải.
Nếu thêm Thái Tuế Quan Phù đến,
Quan tai khẩu thiệt nhất định không thể không có
Lại gặp cả Điếu Khách với Tang môn
Đảm bảo là vừa bị tai họa vừa bị bệnh tật).
[Nói đến Hóa Kị tinh là thần quản nhiều sự, ở khắp 12 cung mà Thân Mệnh hay nhị hạn gặp phải thì chủ không được tốt lành, huống hồ Cự Môn vốn cũng chẳng phải cát tinh gì, nếu vào chỗ hãm địa mà còn hóa Kị nữa thì sao mà xem là tốt được.
Nói đến Thái Tuế và Quan Phù vốn là thần của việc dấy lên kiện tụng, huống hồ thêm Cự Môn là sao của thị phi, lại đồng thời kiêm hóa ra Kị lâm vào thì chắc chắn việc quan tụng kiện cáo là không tránh được.
Nói đến Điếu Khách và Tang Môn vốn chủ về hình phạt tang chế, nhưng không gặp Thất Sát Thiên Hình Kình Dương thì có thể miễn được, (nếu gặp chúng) thì tai họa tật bệnh tất sẽ xảy ra vậy, huống chi Hóa Kị lại rất hay sinh ra bệnh tật tai ách nữa].
Thất Sát lâm Thân chung thị yểu,
Tham Lang nhập Mệnh tất vi xướng.
(Thất Sát hãm ở cung an Thân thì chết non,
Tham Lang hãm ở cung Mệnh thì làm ca kỹ).
[Thất Sát thủ ở Thân Mệnh mà hãm địa, thêm hung tinh thì cứ y như thế mà đoán.
Nếu như Tham Lang hãm thủ Mệnh, hoặc tại tam hợp chiếu Tham Lang hãm, dù không có thêm sát tinh, thì cũng chủ nam nữ đều dâm dật. Nếu như có thêm sát tinh thì nam chủ phiêu đãng còn nữ chủ dâm loạn.
Bí văn nói:
“Tham Lang tam hợp tương chiếu lâm
Dã học Hàn Thọ khứ thâu hương”
(Tham lang hãm ở tam hợp chiếu đến
Thì bắt chước Hàn Thọ mà đi làm trộm cắp phấn hương tư tình)].
Tâm hảo mệnh vi diệc chủ thọ,
Tâm độc mệnh cố diệc yểu vong.
(Tâm tốt thì mệnh nhỏ bé cũng được sống thọ,
Tâm ác độc thì mệnh vững chắc cũng chết non).
[Hai câu này, câu trước là thuyết giảng về âm đức, câu sau thì biện về xem phản chuyển ra ti tiện. Như Khổng Minh hỏa thiêu đội quân giáp mây mà cũng bị tổn thọ chính là vậy].
Kim nhân mệnh hữu thiên kim quý, vận khứ chi thì khởi cửu trường.
Số nội bao tàng đa thiểu lý, học giả tu đương tử tế tường.
(Người nay mệnh quý ngàn vàng vậy, Vận vụt trôi qua há mãi sao.
Trong số ít nhiều tàng lý lẽ, học giả xem kỹ để tỏ tường).
93. Chú giải Nữ mệnh Cốt Tủy Phú
Phủ Tướng chi tinh nữ mệnh triền,
tất đương tử quý dữ phu hiền.
(Trong triền độ của cung mệnh người nữ mà có Phủ, Tướng,
Thì tất sẽ có chồng là hiền nhân và có con là quý tử).
[Tại cung Ngọ mà an Mệnh có Thiên Phủ, Thiên Tướng tọa thủ, người tuổi Giáp là hợp cách. Ở cung Tý an Mệnh thì người tuổi Kỷ là hợp cách. Ở cung Thân an Mệnh thì người tuổi Canh là hợp cách, tất sẽ được hưởng thụ vinh hoa, được phong tặng vẻ vang vậy.]
Liêm Trinh thanh bạch năng tương thủ.
Cánh hữu Thiên Đồng diệc lý nhiên.
(Liêm Trinh đắc miếu vào nữ mệnh là năng giữ được sự trong sạch, thuần khiết.
Thêm cả sao Thiên Đồng cũng có cùng cái lý giống như vậy).
[Liêm Trinh tại Mùi cung an Mệnh thì người tuổi Giáp là hợp cách. Tại cung Thân (khỉ) an Mệnh thì người tuổi Quý là hợp cách. Tại cung Dần an Mệnh thì người tuổi Kỷ là hợp cách, đều là thượng cục.
Thiên Đồng tại Dần cung an Mệnh, người tuổi Giáp là hợp cách. Tại cung Mão an Mệnh, người tuổi Ất là hợp cách. Tại cung Tuất an Mệnh, người tuổi Đinh là hợp cách. Tại cung Tị an Mệnh thì người tuổi Bính Tân là hợp cách. Tại cung Hợi an Mệnh thì người tuổi Bính Nhâm là hợp cách, đều chủ phú quý].
Đoan chính Tử Vi Thái Dương tinh,
Tảo ngộ hiền phu tính khả bằng.
(Người nữ có Tử Vi, Thái Dương thủ mệnh là đoan chính,
Sớm gặp được chồng là hiền nhân để nương tựa).
[Tại ba cung Tý, Tị, Hợi mà an Mệnh, không có thêm sát tinh thì chủ phú quý.
(QNB chú: câu này sách chủ giải hơi mơ hồ. Độc giả lưu ý)].
Thái Dương Dần đáo Ngọ, ngộ cát chung thị phúc.
(Từ cung Dần thuận tới cung Ngọ, mà Thái Dương gặp cát tinh thì cả đời hưởng phúc).
[Ngọ cung an Mệnh có Thái Dương tọa thủ thì định là chủ phú quý, hãm địa bình thường.
(QNB chú: câu này sách chủ giải mơ hồ. Độc giả lưu ý)].
Tả Phụ Thiên Khôi vi phúc thọ,
Hữu Bật Thiên Tướng phúc lai lâm.
(Tả Phụ gặp Thiên Khôi là phúc thọ tăng,
Hữu Bật đi với Thiên Tướng là phúc sẽ tới).
[Bốn sao này ở các cung đắc địa, nếu như Thân Mệnh mà gặp chúng tọa thủ, thì định là chủ được hưởng phúc thọ vẻ vang, hưng thịnh.]
Lộc Tồn hậu trọng đa y thực,
Phủ Tướng triều viên mệnh tất vinh.
(Lộc Tồn phúc hậu và thận trọng có được giàu có,
Phủ Tướng chầu mệnh thì tất sẽ được hưng thịnh vẻ vang).
[Lộc Tồn thủ Mệnh ở các cung hễ thấy Tử Phủ Vũ Khúc tam hợp thủ chiếu thì không giàu thì cũng sẽ sang quý. Duy trường hợp Lộc ở Dần mà Mệnh ở Thân (khỉ) hay Lộc ở Thân (khỉ) mà Mệnh ở Dần, là “Lộc triều viên” cách, người tuổi Giáp Canh là thượng cục, người tuổi Tân Ất là thứ chi. Những người tuổi Bính Mậu Đinh Kỷ Nhâm Quý mà an Mệnh tại Tị Hợi Tý Ngọ thì không được đẹp.]
Tử Phủ Tị Hợi tương hỗ phụ,
Tả Hữu phù trì phúc tất sinh.
(Tử Phủ ở Tị Hợi có sự giúp đỡ qua lại cho nhau,
Được thêm Tả Hữu phù trì cho nữa thì phúc sẽ phát sinh).
[Ở Tị Hợi cung mà an Mệnh, gặp Tử Phủ Tả Hữu thủ, chiếu, xung, giáp, mà lại đồng thời có thêm hóa tinh cát tinh nhiều thì tất sẽ được phú quý vậy.]
Cự Môn Thiên Cơ vi phá đãng,
Thiên Lương Nguyệt diệu nữ mệnh bần.
(Nữ Mệnh mà có Cự Môn, Thiên Cơ thì sẽ phá đãng,
Có Thiên Lương, Thái Âm thì sẽ nghèo).
[Tại Dần Mão Thân mà an Mệnh gặp Cự Cơ, tuy là vượng địa, nhưng chung cuộc phúc không được trọn vẹn tốt đẹp, hoặc phú quý thì không tránh được tư tình, nếu như Cự với Cơ mà ở chỗ hãm địa thì là hạng phá đãng hạ tiện.
Tại Tị Hợi cung mà an Mệnh có Thiên Lương tọa thủ, tại Dần Thìn cung an Mệnh có Thái âm tọa thủ, đúng là về đứng đắn và y lộc thì khó mà toại nguyện được, nếu như các chỗ hãm địa khác thì là hạ tiện.]
Kình Dương Hỏa Tinh vi hạ tiện.
Văn Xương Văn Khúc phúc bất toàn.
[Nữ mệnh mà có Kình, Hỏa thủ Mệnh ở vượng cung thì cũng có thể (như vậy), nhưng hình khắc là không thể tránh được. Nếu như cư ở chỗ hãm địa lại có thêm sát tinh thì nếu không như thế thì chắc là chết yểu.
Văn Xương Văn Khúc hợp với Nam mà không hợp với Nữ].
Vũ Khúc chi tinh vi quả tú,
Phá Quân nhất diệu tính nan minh.
(Vũ Khúc vào nữ mệnh thì dễ cô quả,
Phá Quân là một sao mà tính chất rất khó minh tường).
[Vũ Khúc hợp với Nam mà không hợp với Nữ, nếu như gặp “Thái Âm đắc lệnh” ở tam phương có cát tinh củng chiếu thì có thể là nữ tướng (QNB chú: chỗ này theo tôi nên hiểu cụm “Thái âm đắc lệnh” kia là được mùa, được tháng sinh lúc trăng đang đẹp, trên lá số thì Thái Âm cũng miếu vượng). Nếu như hãm địa mà gặp Xương Khúc và thêm sát tinh thì cô quả.
Phá Quân là sao cô độc dâm dật không phù hợp với nữ Mệnh, thêm tứ sát thì tất vì gian tình mà mưu hại chồng, vì ghen tuông mà hại con, chẳng những là bọn nô tỳ mà còn có thể là ca kỹ vậy].
Tham Lang nội ngoan đa dâm dật,
Thất Sát trầm ngâm phúc bất vinh.
(Tham Lang làm vợ hung ác lại còn đa dâm,
Thất Sát thì do dự, ơ hờ mà không được sinh phúc).
[Tham Lang có tên là Đào Hoa, là sao háo sắc, không dung tha cho bọn tỳ thiếp, tâm có tật ghen tuông, vì gian tình mà hại chồng hại con, thậm chí vô cùng dâm dật.
Thất Sát là tướng tinh, nếu cư miếu vượng thì chủ là nữ tướng.
Bí văn nói:
“Cơ Nguyệt Dần Thân nữ mệnh phùng
Ác sát gia chi dâm xảo dung
Tiện hữu cát hóa chung bất mỹ
Thiên phòng thị phụng chủ nhân ông”
(Nữ mệnh Cơ Âm ở Dần Thân
Gặp thêm ác sát đẹp mà dâm
Dẫu cho cát hóa chẳng vẹn đẹp
Làm thiếp hầu hạ lão chủ nhân)
(QNB chú: câu này sách chú giải mơ hồ. Thậm chí có sự lắp ghép sai phần chú giải, lấy bài bí văn của Cơ Âm mà nói về Thất Sát. Độc giả lưu ý vậy).]
Thập can hóa Lộc tối vinh xương
Nữ mệnh phùng chi đại cát xương
Cánh đắc Lộc Tồn tương tấu hợp
Vượng phu ích tử thụ ân quang.
(Mười can hóa Lộc rất vinh xương
Nữ mệnh gặp là đại cát tường
Thêm gặp Lộc Tồn xung thủ hợp
Vượng phu ích tử vua phong thưởng).
[Như Mệnh tọa Hóa Lộc, lại được Lộc Tồn xung hợp, hoặc hạn gặp Lộc Tồn đồng cung, là chủ quý, phong hiển mệnh phụ phu nhân, cũng chủ đại phú, vượng phu ích tử.]
Hỏa Linh Dương Đà cập Cự Môn
Thiên Không Địa Kiếp hựu tương lâm
Tham Lang Thất Sát Liêm Trinh tú
Vũ Khúc gia lâm khắc hại xâm.
(Kình Đà Linh Hỏa Cự Môn tinh
Địa Kiếp Thiên Không cũng rập rình
Thất Sát Tham Lang Liêm cũng thế
Cùng là Vũ Khúc chủ khắc hình).
[Đại để các sao ấy thì nữ mệnh không hợp gặp nó, như chỉ gặp một hai sao thì cũng dễ chủ dâm tiện, nếu thấy cả lũ thì chủ hạ tiện bần yểu chi mệnh vậy.]
Tam phương tứ chính hiềm phùng phá
Cánh tại phu cung họa hoạn thâm
Nhược thị bản cung vô chính diệu
Tất chủ sinh ly khắc hại chân.
(Tam phương tứ chính ngại gặp phá
Đóng ở phu cung họa hoạn nhiều
Nếu mà bản cung vô chính diệu
Tất chủ sinh ly khắc hại rõ).
[Các sao ấy (ở đoạn thơ bên trên) đến xung phá, duy Thất Sát ở tam phương tứ chính Thân Mệnh hoặc Phu cung đều không nên gặp, gặp thì cứ theo đó mà đoán.
Các câu phú ấy đều là phép khán mệnh, điều nào cũng có ứng nghiệm, cần phải tinh tế mà nghiền ngẫm, nhớ cho kỹ, thì phú quý bần tiện vinh hoa thọ yểu có thể nắm rõ trong lòng vậy.]
94. Chú giải Thái Vi Phú
Lộc phùng xung phá, cát dã thành hung
(Lộc gặp xung phá thì cát cũng thành hung)
[Giả như Thân Mệnh cung gặp Lộc Tồn, hoặc trong tam hợp có Lộc, tiếp đến lại bị gặp Kị tinh xung phá, vì dễ phản chuyển thành điềm hung.
Lại như hạn bộ đến Lộc vị, mà lại gặp các hung tinh cùng tụ tập, cũng đoán là hung vậy.]
Mã ngộ Không Vong, chung thân bôn tẩu
(Thiên Mã gặp Không Vong thì cả đời bôn ba, lưu lạc)
[Giả như người sinh năm Giáp, có Triệt Lộ Không Vong tại cung Thân (khỉ), bàng Không tại Dậu. Nếu an Mệnh tại cung Thân, chủ nhân cả đời bôn tẩu, hoặc là hợp với tăng đạo.
Hễ mà Mã “có yên có cương” tất sẽ là điều lành, tất sẽ có sự dừng lại kìm giữ lại (cho đỡ bị bôn tẩu), còn nếu như không có dây cương rào cản thì tất sẽ là “tán Mã” (ngựa chạy lung tung).
QNB chú: không rõ cụm từ “có yên có cương” trong câu trên là muốn ám chỉ cái gì. Có lẽ muốn nói đến sự chế hóa nào đó đối với sao Thiên Mã trong cách cục lạc Không Vong này. Có thể chữ “Lan” là viết tắt của sao Lan Can mà an theo vòng Tuế Tiền Thần Sát!!! Nguyên văn câu ấy như sau:凡馬有闌有鞍則為吉, 則有停止, 無闌者則為散馬 – Phàm mã hữu lan hữu an tắc vi cát, tắc hữu đình chỉ, vô lan giả tắc vi tán mã.]
Sinh phùng bại địa, phát dã hư hoa.
Tuyệt xứ phùng sinh, hoa nhi bất bại.
(“Sinh” mà gặp chỗ Bại địa thì có phát cũng chủ hư hão, sớm hao tán
ở chỗ Tuyệt mà gặp “Sinh”, thì tuy ban đầu yếu hao nhưng không không bại được – càng về cuối càng tốt)
[Giả như năm Nạp Âm là Thủy / Thổ, có Trường Sinh tại cung Thân, mà Thân lại chính là kim tinh là chủ của bản cung, nếu như Mệnh an tại Dậu, (thì) Dậu là chỗ Bại địa của Thủy / Thổ, lại thêm các Hình Kị Hao hung tinh thì tuy phát cũng chủ hư hão, chóng hao tàn.
Giả như người Thủy / Thổ mà an Mệnh tại Tị, (thì) Tị vị là chỗ đất của Tuyệt địa của Thủy / Thổ, tiếp đến lại đắc Kim tinh sinh ở Tị, Kim lại đắc sinh Thủy nên không bị Tuyệt, ấy là cái lý mẹ đến cứu giúp con vậy. Ở trong Tị có tàng chứa Bính hỏa thừa vượng, Hỏa lại sinh Thổ, (cho nên) tuy Dần Thân Tị Hợi là “tứ Tuyệt” nhưng lại cũng chính là “tứ Sinh”, điển cố viết rằng:
“Ngũ hành Tuyệt xứ tức thị thai nguyên
-còn tiếp-
– học phong thủy, học tử vi tại http://hocvienlyso.org – thường xuyên khai giảng khóa mới

Leave a comment

0.0/5

Địa chỉ

27 Trường Chinh, Tân Thới Nhất,

Quận 12, HCM

0989224080

Newsletter

Tử Vi Sài Gòn © 2024. All Rights Reserved.

Cart0
Cart0
Cart0
Go to Top