Skip to content Skip to sidebar Skip to footer

Ý nghĩa 64 quẻ dịch – huyền không đại quái

Ý nghĩa của 64 quẻ trong Chu Dịch được giải thích thông qua quái từ, hào từ, dụng quái, sự biến hóa tiến thoái của các hào. Nhằm mục đích giúp người đọc hiểu nhanh tên của các quẻ, tiết này sẽ giải thích ngắn gọn nhất có thể ý nghĩa của các quẻ thông qua hình tượng tự nhiên, các hướng phát triển lân cận hoặc hình tượng của các hào.

  1. Càn vi Thiên (乾為天): Trời thống lĩnh vạn vật. Mọi sinh mệnh trong không gian đất trời đều khởi phát từ trời.
  2. Khôn vi Địa (坤為地): Đất chất chứa, nâng đỡ vạn vật. Mọi sinh mệnh đều được thành hình từ Đất.
  3. Thủy Lôi Truân (水雷屯): Truân hiểu một cách nhanh gọn là khó khăn. Thượng quái Khảm  tượng là nước bị đóng băng, Hạ quái Lôi  là cây cỏ nhỏ đang lớn. Nếu cây cỏ nhỏ đang phát triển mà gặp nước bị đóng băng thì ai cũng biết đó là sự khó khăn thế nào.
  4. Sơn Thủy Mông (山水蒙): Dưới núi  có nước , hơi nước bốc lên, mông lung cả 1 vùng, không thể nhìn rỏ được.
  5. Thủy Thiên Nhu (水天需): Nước  bốc hơi lên trời  biến thành mây, nếu muốn đổ mưa và trở lại trời quang đãng thì phải chờ đợi. Nhu chính là chờ đợi điều tích cực.
  6. Thiên Thủy Tụng (天水訟): Âm thầm hỏi trời xanh. Người trên đang ngồi tại đó , kẻ dưới chịu khổ nạn (Khảm  là nạn) muốn đề xuất lên, hi vọng đòi lại được công bằng nên gọi là Tụng.
  7. Địa Thủy Sư  (地水師): Sư là quân đội, là chiến tranh. Nước  vốn dĩ có thể làm cho đất ẩm nhuận thì mới gọi là tốt. Khi thấm hết vào lòng đất  thì hạn hán là điều có thể biết được. Khôn  đại diện cho số đông, Khảm  là nạn, khổ nạn lớn nhất bao trùm lên nhiều người chính là chiến tranh.
  8. Thủy Địa Tỷ (水地比): Tỷ chính là ngang vai, là cùng nhau hợp tác. Nước  chảy trên đất , nước có nơi ở, đất được tươi nhuận, tương thân tương ái.
  9. Phong Thiên Tiểu Súc (風天小畜): Súc nghĩa là tích trữ, dừng lại. Gió  thổi trên trời  nhiều mây nhưng không mưa, đất đai không được tươi nhuận, sự phát triển của vạn vật tạm thời bị dừng lại.
  10. Thiên Trạch Lý (天澤履): Giống như quẻ Càn vi Thiên  ở trên và Đoài vi Trạch  ở dưới là điều hiển nhiên, không thể thay đổi được. Tượng như người cha ngồi bên trên còn cô gái hầu hạ bên dưới, đó cũng là bổn phận và trách nhiệm của một người con gái. Với xã hội hiện nay, việc giữ lễ nghĩa như xưa là 1 điều quá khó khăn.
  11. Địa Thiên Thái (地天泰): bản chất Thiên  ở trên, Địa  ở dưới, nếu như Thiên Địa chỉ ở nguyên vị trí ban đầu thì có ích gì đối với nhân loại vạn vật? Thiên Địa nhất định phải có sự giao cấu thì mới sinh sôi và mang lại lợi ích cho vạn vật, như thế mới gọi là “cát tường an thái”.
  12. Quẻ Thiên Địa Bĩ (天地否): Thiên  thì cao cao tại thượng, Địa  lại ở vị trí rất thấp bên dưới. Khoảng cách ngày Càng xa nhau, sự giao hợp âm dương không thể xảy ra. Như vậy mọi vật không được sinh sẽ rơi vào bế tắc, đây chính là “bĩ bất tắc thông” – bĩ thì không thể thông.
  13. Thiên Hỏa Đồng Nhân (天火同人): Trời và Thái Dương đều là dạng có khí mà không có hình, đều là “đại công vô ngã”, chiếu ánh sáng khắp trên mặt đất. Kỳ thực đều giống nhau, giống như câu “chí đồng đạo hợp đích nhân”- nghĩa là người cùng chí hướng, nên mới có danh từ “đồng nhân”.
  14. Hỏa Thiên Đại Hữu (火天大有): Trời và Thái dương đều có tượng giống nhau, Thái dương chiếu sáng vạn vật, biểu tượng của “đại đức”. Mà khi vạn vật được chiếu sáng thì tự nhiên phong phú thịnh thái – tức là mọi thứ đều được hanh thông.
  15. Địa Sơn Khiêm (地山謙): vốn dĩ Núi  ở trên cao lại có thái độ khiêm Tốn đối với Đất  vốn phải ở dưới. Đó là sự ẩn dụ cho người có tài lại khiêm Tốn ẩn mình, không thích khoe khoang sẵn sàng cam chịu thế hạ phong trước người khác.
  16. Lôi Địa Dự (雷地豫): dự có nghĩa là tham gia, vui mừng, Lôi  ở trên mà địa  ở dưới, là tượng của sấm mùa xuân. Nhưng sấm mùa xuân không phải đột nhiên mà xuất hiện, mà nó đã được hình thành từ mùa đông, đợi đến thời cơ thích hợp mới phát ra. Sau tiếng sấm của mùa xuân, vạn vật trở nên sung mãn, tràn đầy sức sống, vui vẻ phồn thịnh.
  17. Trạch lôi Tùy (澤雷隨): Quái Đoài  có hào âm phía trên giống như cái miệng đang mở ra, cho nên Đoài  giống như mở miệng ra để dụ dổ, dẫn dắt người khác, Chấn  có 2 hào âm hướng lên phía trên, biểu thị cho sự hùa theo trong lời ăn tiếng nói của quái Đoài. Đoài là quái dẫn đầu hô hào, Chấn là quái đi theo sau. Vì thế Chấn chỉ có ngoan ngoãn mà đi theo Đoài mà không thể tiến lên được. Tùy là đi theo, thuận theo vậy!
  18. Sơn Phong Cổ (山風蠱): tính chất của gió  là sự lưu thông, nhưng khí lạnh sẽ bị ngưng tụ dưới chân núi . Bởi vì không khí không được lưu thông nên ẩm thấp, ô trọc, cho nên lên mốc sinh giòi.
  19. Địa Trạch Lâm (地澤臨): Đoài  tức là Trạch là đầm lầy, tượng trưng cho sự sâu rộng, nếu một người từ mặt đất mà nhìn xuống 1 hố sâu rộng thì không thể không cẩn thận. Người xưa có câu “như lâm thâm uyên” nghĩa là “ như rơi xuống vực sâu”. “Lâm” ở đây là chính là đứng ở trên cao nhìn xuống, soi sáng, nên cẩn thận.
  20. Phong Địa Quán (風地觀): Gió thì thổi ở trên mặt đất nên mọi thứ đều được nhìn thấy rõ ràng. Quán ở đây chính là sự quan sát.
  21. Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp (火雷噬嗑): Phệ Hạp ý chỉ hình tượng hàm trên và dưới cắn lại với nhau. Chúng ta cùng xem hình tượng của quẻ: Hào sơ và hào thượng là đôi môi, hào nhị tam ngũ là răng, hào tứ như một vật nằm ngang chính giữa, phải cắn gãy thì hai hàm mới hợp lại được, còn có tên là “phệ khái” Nếu sự việc gặp cản trở, cần phải trừ bỏ thì mới có thể thành công được. Chấn tức là sấm sét, sấm sét chủ về hình phạt và uy nghiêm, Ly cũng là điện, điện là soi sáng, kĩ Càng, sấm sét và điện hợp lại để loại bỏ những phần tử xấu xa.
  22. Quẻ Sơn Hỏa Bí (山火賁): Thượng quái Cấn là núi, ở bên dưới quái Ly  tượng có người đang đốt lửa, ánh sáng chiếu lên trên núi, cảnh tượng thật đẹp, thật mỹ lệ.
  23. Sơn Địa Bác (山地剝) thượng quái Cấn  là Núi, hào thượng là hào dương, giống như trên đỉnh núi có khí nóng, hào nhị và hào tam chỉ sự ẩm ướt trong đất. Hạ quái Khôn  là đất, ba hào đều là âm chỉ cho sự ẩm ướt, lạnh lẽo ở phía dưới. Khi gió thổi qua đỉnh núi, sự nóng ấy sẽ giảm dần. Vậy Bác là giảm dần, bóc từng lớp, tróc ra, bong ra, rơi rụng, mất từ từ.
  24. Quẻ Địa Lôi Phục (地雷復): Khôn  mang hành Thổ thuần âm, tượng trưng cho sự lạnh rét cực độ của mùa đông, mà “vật cực tất phản”. Đi theo thời tự biến hóa, cuối cùng một hơi ấm cũng xuất hiện trong lòng đất  (hào dương bắt đầu được hình thành), chỉ đợi khi mùa xuân đến thì mới có thể phát triển.
  25. Thiên Lôi Vô Vọng (天雷無妄): “Vô vọng” chính là “chân thật mà không ảo tưởng”. Sự vận hành của thiên thể và Chấn động của sấm sét, tất cả đều là các hiện tượng tự nhiên, không thể thuận theo ý muốn của con người. Vì thế mà “chân thật nhi một hữu hư vọng”.
  26. Sơn Thiên Đại Súc (山天大畜): Mặt trời lặn ở dưới chân núi, chờ đến sáng sớm mà mọc ở phía Đông. Cấn là dừng lại, cản trở, Càn là sự vận hành tích cực. Ví như sự nhẫn nại chờ đợi thời cơ, khi thời cơ đã tới, sự tích trữ năng lượng đầy đủ mới thể hiện tài năng của mình.
  27. Sơn Lôi Di (山雷頤): Dùng hình tượng cái miệng để mô tả. Hào sơ là hàm dưới, hào nhị hào tam là răng dưới, hào tứ hào ngũ là răng trên, hào thượng là hào trên. Hình tượng cái miệng để nuôi dưỡng con người.
  28. Trạch Phong Đại Quá (澤風大過): Hào thượng và hào hạ là hào âm, bao trùm các hào dương. Nhưng mà hào dương (đại) quá nhiều thế nên mới gọi là “Đại quá”.
  29. Khảm vi Thủy (坎為水): Khảm tiểu thành quái chính là thủy, nội ngoại quái đều là thủy. Nước quá nhiều thì gọi là đại nạn.
  30. Ly vi Hỏa (離為火): Tiểu thành quái  thuộc hỏa, trùng quái chính là quái Ly.
  31. Trạch Sơn Hàm (澤山咸): “Hàm” có nghĩa là “cảm” – tình cảm, cảm xúc, hào hợp. Người ta còn nói, Đoài là thiếu nữ, Cấn là thiếu nam, dương vốn ở trên, âm vốn ở dưới. Bởi vì có sự giao lưu, Đoài âm thì thăng lên, Cấn dương hạ xuống, thiếu nam thiếu nữ gặp nhau mà có cảm tình vậy.
  32. Lôi Phong Hằng (雷風恆): Chấn  là trưởng nam, Tốn  là trưởng nữ, nam nữ sau khi kết hôn thành vợ chồng, nhất thiết phải duy trì “hằng thường”. Hằng là lâu bền, lâu dài vậy.
  33. Thiên Sơn Độn (天山遯): Càn  là quân tử, Cấn  là núi. Là tượng người quân tử ẩn cư trên núi. Nên gọi là “độn”.
  34. Lôi Thiên Đại Tráng (雷天大壯): Lôi  chỉ sự phấn đấu và cố gắng, Càn chỉ sự cường tráng, mạnh mẽ. Đại khái mà nói là người có ý chí, sự cố gắng và phấn đấu để có được danh tiếng gọi “đại tráng”.
  35. Hỏa Địa Tấn (火地晉): Thái Dương mọc ở chân trời , quang minh long trọng mà đi lên.
  36. Địa Hỏa Minh Di (地火明夷): Di có nghĩa là “thương tổn”, minh di có nghĩa là “ánh sáng dần mất đi”. Đây chính là tượng của mặt trời đang lặn. Ly  là mặt trời, Khôn  là đất, tượng của mặt trời dưới đất (mặt trời lặn) vậy.
  37. Phong Hỏa Gia Nhân (風火家人): Nhà là nơi duy trì lửa không thể dập tắt, Tốn là trưởng nữ với Ly  là trung nữ hợp tác với nhau, thật giống như lửa sinh ra gió, gió lại làm gia tăng sức của lửa, ý chỉ người trong nhà hỗ trợ mà “tề gia”.
  38. Hỏa Trạch Khuê (火澤睽): Ly  trong cơ thể là con mắt, Đoài  là sự tổn hại, “Khuê” có nghĩa là “phản mục”. Hỏa  có tính nóng và hướng lên, Đoài  là trạch thuộc âm thủy, tính của thủy là hướng xuống. Bản tính có sự khác biệt, tương phản.
  39. Thủy Sơn Kiển (水山蹇): Khảm  vi hãm, là khó khăn, là hãm hại, là hiểm nạn, Cấn là núi, là dừng lại. Hình tượng phía trước là một con song lớn, không biết có nên dừng lại hay đi tiếp, bị rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan. Vì thế mà chân cứ tiến rồi lại lùi, như người bị tật đi khập khiển vậy. Kiển tượng của sự gian nan, trở ngại, tiến thối lưỡng nan vậy. (Từ điển Thiều Chửu có viết: Khiễng, chân đi tập tễnh, vì thế nên những nỗi khốn ách chậm chạp đều gọi là kiển).
  40. Lôi Thủy Giải (雷水解) Chấn  là mùa xuân, là điện, Khảm  là mùa đông là băng; tượng mùa xuân đến và băng tan. Lôi là động, là phấn đấu, là tiến lên, Khảm là hiểm nạn. Phấn đấu và vượt qua hiểm nạn, vì thế mà được giải phóng.
  41. Sơn Trạch Tổn (山澤損): núi cao bên cạnh đầm lầy , khi ao hồ đầm lầy càng sâu rộng sẽ thấy núi càng cao. Nếu như một người tự mình làm tổn hại mình thì chỉ là càng làm cho người khác có lợi hơn mà thôi.
  42. Phong Lôi Ích (風雷益): Vốn dĩ Thiên Địa Bĩ  là tượng âm dương bất tương giao, tượng trưng cho ở trên thì phong phú mà ở dưới thì lại bần cùng. Nay ở trên ban ân cho phía dưới, quái Thiên hoán 1 hào dương cho quái Khôn , ở dưới liền biến thành quái Chấn  có sức sống (Chấn là động là tiến lên, là phấn đấu), có lợi cho mọi việc.
  43. Trạch Thiên Quải (澤天夬): “Quải” cũng giống như “Quyết”. Đoài  là trạch, là âm thủy, vốn dĩ nước thì ở chỗ trũng, chỗ thấp, nước mà bốc hơi lên trời thì sẽ ngưng kết lại mà thành mưa (thời khắc quyết định đã đến). Như nói về hào tượng, hào dương là nước, lúc đầu ta có cái bình rỗng nhưng liên tục đổ nước vào chắc chắn nước sẽ đầy và tràn ra ngoài.
  44. Thiên Phong Cấu (天風姤): “cấu” là sự gặp gỡ bất ngờ (không hẹn mà gặp). Lúc đầu bản thân là quái thuần Càn  là thuần dương quanh minh. Hào âm lặng lẽ xuất hiện ở dưới nhập vào quái Càn, giống như “ngoại ngộ” vậy.
  45. Trạch Địa Tụy (澤地萃): Tụy chính là tụ tập. Ý nói nước mưa  (Đoài là âm thủy) rơi xuống, đọng lại trên mặt đất .
  46. Địa Phong Thăng (地風升): Tượng chồi non  được chôn sâu dưới đất  từ từ lớn lên. “Thăng” nghĩa là lớn lên, trưởng thành lên.
  47. Trạch Thủy Khốn (澤水困): nước  vốn được chứa đựng trong ao hồ đầm , nay nước lại ở phía dưới đầm (rò rĩ, rơi rớt), biến thành hiện tượng khô hạn. Như thế chúng ta cũng biết được tình trạng khốn khổ như thế nào.
  48. Thủy Phong Tỉnh (水風井): Tốn  tượng trưng cho dây thừng, dây thừng buộc vào thùng nước , nước từ ở dưới có thể lên được phía trên. Vì thế quái này tượng trưng cho cái giếng.
  49. Trạch Hỏa Cách (澤火革): “Cách” có nghĩa là “cải cách”. Nội quái Ly  là mùa hè, ngoại quái Đoài  là mùa thu, từ mùa hè chuyển sang mùa thu, là mùa động vật, chim chóc thay lông.
  50. Hỏa Phong Đỉnh  (火風鼎): Tốn Mộc phía dưới Ly  hỏa ở trên, tượng của sự nấu nướng, cho nên gọi là “Đỉnh”. (cái vạc, cái đỉnh, cái bếp)
  51. Chấn Vi Lôi (震為雷): Tiểu thành quái là lôi , là phấn đấu, là tiến tới. Trùng quái chính là quái Chấn.
  52. Cấn Vi Sơn (艮為山) : Quái tượng của Cấn  là núi, ý chỉ sự dừng lại.
  53. Phong Sơn Tiệm (風山漸): Trên núi  thì có cây nhưng không phải một sớm một chiều mà thành, cũng phải hình thành từ một quá trình phát triển lâu dài. Nên mới gọi là Tiệm – tiến từ từ.
  54. Lôi Trạch Quy Muội  (雷澤歸妹): “Quy” là người nữ xuất giá, “muội” chỉ người con gái trẻ tuổi. Lôi là động, Đoài  là vui vẻ, “Lôi Trạch” chính là vì sự vui vẻ mà động. Cô gái trẻ tuổi vì sự vui vẻ mà động (xuất giá), đây là một hành động không được bình thường, nên quẻ này chỉ có thể là “thiếp”.
  55. Lôi Hỏa Phong  (雷火豐): Chấn là động, Ly  là mặt trời, là ngày hè. Mặt trời ngày hè thì rất nóng, khí thế lớn mạnh (phong). Chấn là lúa thóc, Ly là rậm rạp, bởi vậy tượng quái thể hiện cho sự thu hoạch “được mùa”.
  56. Hỏa Sơn Lữ  (火山旅): Trong nhà thì thường hay nấu nướng, bởi vậy mà lửa còn biểu tượng là nhà. Cấn  là cửa, lửa bên ngoài cửa, tượng trưng cho đi du lịch bên ngoài, cho nên nấu nướng ở bên ngoài. Tượng của việc đi xa vậy.
  57. Tốn Vi Phong (巽為風): Tốn là trùng quái. Tiểu thành quái   chính là gió.
  58. Đoài Vi Trạch (兌為澤): Đoài là trùng quái. Tiểu thành quái  chính là đầm lầy, âm thủy.
  59. Phong Thuỷ Hoán (風水渙): Gió  thổi trên mặt nước , nước liền biến thành hơi nước (thủy khí).
  60. Thủy Trạch Tiết (水澤節): Phía trên Đoài  Trạch là Khảm  thủy. Ao hồ đầm chứa nước, điều tiết nước để tưới tiêu.
  61. Phong Trạch Trung Phu (風澤中孚): Trung phu chính là thành tín. Chúng ta nhìn vào ngoại quái thấy rằng quái Tốn  chính là quái Đoài  lật ngược lại. Đoài  là cái miệng, tượng giống như 2 cái miệng tương thân tương hợp. Đồng thời nhìn vào quái hình ta thấy giống như 2 cái miệng đang hôn nhau . Đây là sự gắng bó thân mật nhất nên nó biểu thị cho sự thành tín (tin tưởng).
  62. Lôi Sơn Tiểu Quá (雷山小過): Hai hào thượng và 2 hào hạ đều là hào âm, ở giữa là hào dương. Mà hào âm còn gọi là “tiểu”quá nhiều, nên có tên là tiểu quá.
  63. Thủy Hỏa Ký Tế (水火既濟): Ký Tế cũng có nghĩa là thành tựu vậy. Ly  hỏa ở dưới có tính chất nóng và hướng lên, Khảm  thủy ở trên có tính chất ẩm ước và hướng xuống. Lúc này thủy hỏa nhị khí có thể tương giao, tương tế mà thành sự.
  64. Hỏa Thủy Vị Tế (火水未濟): Vị Tế có nghĩa là việc chưa thành. Ly  hỏa ở trên có tính chất nóng và hướng lên, Khảm  thủy ở dưới có tính chất ẩm ước và hướng xuống. Nhị khí thủy hỏa không thể tương giao với nhau, khó gặp gỡ mà thành được.

Trích: Huyền không đại quái thực hành – tập 1

Lược dịch: Minh Tuệ

Leave a comment

0.0/5

Địa chỉ

27 Trường Chinh, Tân Thới Nhất,

Quận 12, HCM

0989224080

Newsletter

Tử Vi Sài Gòn © 2024. All Rights Reserved.

Cart0
Cart0
Cart0
Go to Top